Chương 1. Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thời hạn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 THẨM QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam BPTG là một trong các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp này sẽ bảo đảm hiệu quả của các hoạt động tố tụng, ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, gây khó khăn, cản trở cho các hoạt động tố tụng, bảo đảm hoạt động thi hành án hình sự. Tuy vậy, tạm giam là biện pháp ngăn chặn mang tính nghiêm khắc, việc áp dụng biện pháp này sẽ tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân của bị can, bị cáo được hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong số các biện pháp ngăn chặn, tạm giam được xem là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất, biện pháp này cách ly người bị áp dụng ra khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian tương đối dài, buộc họ phải chịu sự quản lý giam giữ tại các cơ sở giam giữ theo quy định của pháp luật, bị hạn chế một số quyền tự do cơ bản.
Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ trong việc áp dụng biện pháp này, hạn chế sự tùy tiện, lạm quyền trong việc áp dụng, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể về thẩm quyền áp dụng BPTG. Theo Từ điển tiếng Việt, “thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định 3 đoạt một vấn đề theo pháp luật”. Theo Từ điển Luật học, “thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ, hành động, quyết định của cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống 4 bộ máy nhà nước do pháp luật quy định”. Việc giải quyết vụ án hình sự trải qua một quá trình và theo một trình tự nhất định.
Quá trình đó bao gồm nhiều hoạt động, trải qua các bước khác nhau do các chủ thể khác nhau thực hiện. Quá trình này có thể được phân chia thành những giai đoạn mang tính tuần tự, logic và nối tiếp nhau trong một chuỗi tố tụng thống nhất. Mỗi giai đoạn tố tụng đều có đặc thù riêng về nhiệm vụ của giai đoạn; chủ thể của giai đoạn; hành vi, văn bản, quyết định tố tụng 5 của giai đoạn và thời gian kéo dài của giai đoạn. Như vậy, mỗi giai đoạn tố tụng sẽ được giao cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác nhau thực hiện.
Trong từng giai đoạn tố tụng các chủ thể có thẩm quyền sẽ xem xét, quyết 3 Hoàng Phê (2020), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 4 Từ điển Luật học (1999), Nxb. Bách Khoa, tr. 5 Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
Hồng Đức, tr. 8 định việc áp dụng BPTG nhằm bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả vụ án, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng. Từ những phân tích trên, có thể hiểu thẩm quyền áp dụng BPTG trong tố tụng hình sự là quyền hạn của các chủ thể theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự được xem xét, quyết định việc áp dụng BPTG đối với bị can, bị cáo. Trong tố tụng hình sự, việc áp dụng BPTG được quy định cho các chủ thể khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng.
Việc quy định thẩm quyền áp dụng BPTG phù hợp với chức năng của các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, phù hợp với tính chất của BPTG sẽ góp phần giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án, hạn chế oan sai trong việc áp dụng biện pháp này. Xuất phát từ tính chất của BPTG và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, BLTTHS năm 2015 đã quy định thẩm quyền áp dụng BPTG tại khoản Điều 119 dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 113 BLTTHS như sau: - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp. Trường hợp này, lệnh tạm giam phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành; - Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS quân sự các cấp; - Chánh án, Phó Chánh án TAND và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; HĐXX. So với BLTTHS năm 2003, thẩm quyền áp dụng BPTG trong BLTTHS năm 2015 không có nhiều sự thay đổi.
Chỉ có sự thay đổi trong việc xóa bỏ thẩm quyền áp dụng BPTG đối với chức danh Chánh tòa, Phó Chánh tòa tòa phúc thẩm TAND tối cao. Vì có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống TAND nên chức danh này đã bị xóa bỏ, nên những người này không còn được quy định là người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam bị can, bị cáo. Theo quy định trên, trong giai đoạn điều tra, thẩm quyền áp dụng BPTG thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp. Trường hợp này, lệnh tạm giam phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành.
Điều này xuất phát từ quy định tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định”. Như vậy, trong giai đoạn điều tra, lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành. BPTG là biện phạm ngăn chặn mang tính nghiêm khắc, để bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp trong việc áp dụng 9 biện pháp này, hạn chế việc tùy tiện, lạm quyền dẫn đến oan sai trong việc áp dụng, Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 đã quy định lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành.
Như vậy, nếu VKS không phê chuẩn lệnh tam giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trường CQĐT thì lệnh này sẽ không có giá trị pháp lý và không được phép thi hành. VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam. Ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn, VKS phải hoàn trả hồ sơ cho CQĐT (khoản 5 Điều 119 BLTTHS năm 2015). Trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền áp dụng BPTG thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS quân sự các cấp.
Trong giai đoạn xét xử, thẩm quyền áp dụng thuộc về Chánh án, Phó Chánh án TAND và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; HĐXX. Đối với việc áp dụng BPTG trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thuộc về Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, còn tại phiên tòa thì thuộc về HĐXX. Qua phân tích ở trên có thể nhận thấy, thẩm quyền áp dụng BPTG được quy định cho những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu trong các cơ quan tiến hành tố tụng. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất nên việc áp dụng biện pháp này được quy định cho một số ít các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm sự thận trọng trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này.
Các quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền áp dụng BPTG đã tương đối cụ thể, chặt chẽ, điều này tạo ra cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thống nhất, đúng đắn pháp luật, góp phần bảo đảm hiệu quả giải quyết vụ án, hạn chế oan sai trong việc áp dụng BPTG nói riêng và quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung. Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam - Những kết quả đạt được trong việc thực hiện quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam: Trong phạm vi luận văn này, tác giả khảo sát về thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS năm 2015 vể thẩm quyền áp dụng BPTG trong phạm vi cả nước từ năm 2015 đến năm 2020 trên cơ sở các báo cáo tổng kết của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và nghiên cứu những vụ án điển hình về việc áp dụng BPTG. Qua các số liệu báo cáo, có thể thấy tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam của các cơ quan có thẩm quyền được thể hiện qua bảng số liệu sau: 10 Năm Tổng số ngƣời bị khởi tố Tổng số ngƣời bị tạm giam Tỉ lệ % 2015 139. Bảng số liệu về tình hình và tỷ lệ áp dụng BPTG trên phạm vi cả nước từ năm 2015-2020 (Nguồn: Cục Thống kê và Công nghệ thông tin VKSNDTC).
Bảng số liệu cho thấy tỷ lệ áp dụng BPTG của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong các giai đoạn tố tụng. Trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2020, theo thống kê của Cục thống kê và Công nghệ thông tin VKS nhân dân tối cao, số người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam có xu hướng giảm, cao nhất là năm 2015 với 93% và thấp nhất là năm 2020 với tỷ lệ 63%. Tuy nhiên, số người bị áp dụng BPTG trung bình qua các năm chiếm tỷ lệ là 81%. Như vậy, có thể nhận thấy BPTG vẫn là một biện pháp phổ biến được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong số các biện pháp ngăn chặn.
BPTG là một trong số các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà khi áp dụng biện pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, cũng như để bảo đảm hoạt động thi hành án hình sự. Việc các chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPTG bảo đảm tính có căn cứ, hợp pháp trong các giai đoạn tố tụng sẽ có tác dụng ngăn chặn bị can, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho các hoạt động tố tụng, góp phần vào việc bảo đảm giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án. Đồng thời, việc áp dụng BPTG bảo đảm tính có căn cứ, hợp pháp cũng sẽ góp phần đảm bảo quyền con người của trong quá trình tố tụng hình sự, đặc biệt là quyền con người của bị can, bị cáo.