Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hoạt động ngoại khoá là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Hoạt động này được chú trọng nghiên cứu và thực hiện như là một công cụ hữu ích để giúp học sinh học tập có kết quả hơn và phát triển toàn diện hơn nhân cách của các em.Cômenxki - ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hung ga ri đã rất coi trọng hoạt động ngoại khoá.
Ở thời đó ông đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy tính thuyết phục [15]. Nhà sư phạm người Nga T.VSmiêcnôva cũng cho rằng: Ngoại khoá để thu hút học sinh, làm cho họ hứng thú và đi đến kết luận rằng ngoại khoá cần được suy nghĩ kỹ và tiến hành ở tất cả các lớp trong hệ thống giáo dục mà không được mang tính chất thất thường. Côpchiêva xem hoạt động ngoại khoá là để nâng cao đạo đức và năng khiếu mọi mặt của học sinh. “Công việc chuẩn bị dạ hội -6- z chuyên đề đã làm cho thầy trò gần gũi nhau.
Thầy nắm vững được yêu cầu xu hướng của học sinh, xác định thái độ đạo đức cho mỗi em”. Từ thực tiễn trải nghiệm, nhà sư phạm A.Côpchiêva kết luận: “Công việc ngoại khoá nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của học sinh mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em”. Cai Rôp– Nhà giáo dục học người Nga đã viết: “Khi đặt kế hoạch công tác giảng dạy chung cho cả năm học mới, người hiệu trưởng phải xét kết quả hoạt động ngoài lớp năm học trước và nhằm mục đích nâng cao thành tích của học sinh, củng cố kỷ luật và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, mà định nhiệm vụ hoạt động ngoài lớp cho năm học sắp tới. Trong kế hoạch công tác của nhà trường có dành một mục riêng cho hoạt động ngoài lớp.
Mục đích đó gồm mấy yếu tố sau: Xây dựng điều kiện và cơ sở vật chất cho hoạt động ngoài lớp năm tới, các hoạt động ngoài lớp của nhà trường và của lớp, phân phối lực lượng và định kỳ hạn cho kế hoạch. Về kế hoạch tỷ mỉ, cụ thể về cách tổ chức các hoạt động quần chúng đặc biệt, hoặc các ngày nghỉ… thì người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo sẽ quyết định riêng và bổ sung cho kế hoạch toàn năm. Những người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo ấy chính là những người được uỷ nhiệm thi hành những điều khoản bổ sung kia”[5] Như vậy, các công trình nghiên cứu này đã làm nổi rõ tầm quan trọng của các hoạt động ngoại khoá và chỉ ra một số biện pháp cần thiết cho nhà quản lý phải làm gì để tổ chức và quản lí tốt các hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong nước Trong nước, từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi xây dựng chương trình giáo dục, Bộ Giáo dục đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong các môn học đạt kết quả đầy đủ thì ở nhà trường cần tổ chức ngoại khoá.
Hoàn cảnh kháng chiến trước đây chưa cho phép chúng ta thực hiện đầy đủ công tác này cho nên trong chương trình cũng chưa ghi phần -7- z ngoại khoá. Từ lúc hoà bình được lập lại, vấn đề này được nêu ra và được các địa phương thực hiện lẻ tẻ. Trong chương trình mới công tác ngoại khoá trở thành một phần quan trọng, khăng khít với nội khoá. Công tác ngoại khoá không nên vì cái tên ngoại khóa của nó mà bị đặt vào một vị trí quá ư thấp kém như một số trường vẫn làm như vậy.
Công tác ngoại khoá không hề mâu thuẫn gì với nội dung giáo dục, giáo dưỡng của nhà trường XHCN mà trái lại bổ sung và nâng cao chất lượng của nội khoá lên một bước”. Tác giả Nguyễn Văn Thiềm trong bài “ Mấy biện pháp giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư” cho rằng: chất lượng giáo dục học sinh ở nhà trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng [24]. Tác giả Đinh Xuân Huy với công trình nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của người hiệu trưởng trong trường phổ thông Dân Tộc Nội Trú – Tỉnh Lai Châu đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường phổ thông Dân Tộc Nội Trú, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động này của người hiệu trưởng, trong đó có hoạt động ngoại khoá [14] Các tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn giáo dục học cũng nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức họat động ngọai khoá, coi đây là một trong những hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt hơn [13]. Nhìn chung các tác giả trên thế giới và trong nước đều đề cao vai trò và tác dụng của hoạt động ngoại khoá trong quá trình giáo dục học sinh, xem hoạt động ngoại khoá là một trong những hình thức tổ chức dạy học quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh.
Tuy nhiên bên cạnh việc khẳng định tính cần thiết của tổ chức hoạt động ngoại khoá, những công trình nghiên cứu này chưa chỉ ra một cách cụ -8- z thể việc cần tổ chức và quản lý hoạt động ngoại khoá ra sao? Làm thế nào để hoạt động ngoại khoá trong nhà trường trung học phổ thông thực sự là một họat động thường xuyên có kết quả tốt? Cách thức cho nhà quản lý khi tổ chức hướng dẫn thực hiện các tổ nhóm chuyên môn đưa hoạt động ngoại khoá vào trong kế hoạch năm học? … Điều này khiến cho không ít trường phổ thông vẫn cảm thấy hoạt động ngoại khoá còn là việc làm có tính hình thức, ép buộc… Vì thế việc xây dựng cơ sở lý luận cho quản lý hoạt động ngoại khoá giúp nhà quản lý có cơ sở điều hành công tác chuyên môn của nhà trường nói chung, hoạt động ngoại khoá nói riêng đạt kết quả tốt hơn. Lí luận chung về quản lý quá trình giáo dục - đào tạo 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một thuộc tính lịch sử, nội tại của mọi quá trình lao động. Nó là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, như C.Mac đã nói: "Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý." Quản lý là một quá trình lựa chọn các tác động, nhà quản lý phải biết sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển của bộ máy.
Nếu chỉ có ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái và ngược lại nếu phát triển mà không ổn định thì sẽ có nguy cơ rối ren. Quản lý còn là việc đặt ra mục tiêu, lựa chọn các phương tiện, điều kiện và tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu quản lý. Về phương diện nhà quản lý thì quản lý là sự tác động của nhà quản lý trong việc chỉ huy, điều khiển, tổ chức quản lý hướng vào các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của từng con người trong quá trình quản lý nhằm đưa đến sự phát triển, biến đổi phù hợp với quy luật khách quan, -9- z đạt mục tiêu quản lý. Để quản lí người quản lí phải lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm soát công việc.
Cụ thể: - Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt được các mục tiêu định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai. Căn cứ chủ thể của kế hoạch, có thể chia kế hoạch làm hai loại: kế hoạch tập thể và kế hoạch cá nhân. Căn cứ phạm vi kế hoạch, cũng có thể chia kế hoạch làm hai loại: kế hoạch tổng quát và kế hoạch chi tiết.
- Tổ chức: Chức năng tổ chức là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng. Đây là chức năng quan trọng thứ hai của các nhà lãnh đạo hệ thống sau chức năng lập kế hoạch. Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc của hệ thống cũng khác nhau.
Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được cấu trúc phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực. - Lãnh đạo (chỉ đạo): Các chức năng lập kế hoạch và tổ chức dù đã được thực hiện tốt nhưng nếu nó không được vận hành trong thực tiễn quản lý thì cũng không có giá trị gì. -10- z Lãnh đạo là điều khiển/điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người và tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm lãnh đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ tham gia xây dựng kế hoạch, giám sát thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.