CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 1. Ở phương Đông Nền văn hóa Trung Hoa cổ đại đã sản sinh ra những nhà tư tưởng về quản lý như Khổng tử (551 – 479 TrCN), Mạnh tử (372 - 289 TrCN), Hàn Phi Tử (280 - 233 TrCN), Thương Ưởng (390 - 338 TrCN), v. Tuy tư tưởng về quản lý của họ có khác nhau về quan điểm, như Khổng Tử, ông chú trọng về “Đức trị” để quản lý xã hội và cai trị dân.
Còn Hàn Phi Tử, Thương Ưởng thì thiên về “Pháp trị”. Nhưng cho đến nay, những quan điểm trên vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách quản lý của các nước châu Á. Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng khá sâu sắc triết lý của đạo Khổng trong quản lý Chính trị, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội. Ở phương Tây Có nhà hiền triết Hy Lạp tên là Socrate (470 - 399 TrCN) cũng đề cập đến quản lý và sau này có thêm Platon (427 - 346 Tr CN).
Theo Platon, muốn cai trị nước phải biết đoàn kết dân lại và phải vì dân, tiêu chuẩn của người đứng đầu là ham hiểu biết, trung thực, tự chủ, điều độ, ít tham vọng về vật chất và phải được đào tạo kỹ lưỡng. Trong thời kỳ lịch sử cận đại thì có Chales Babrage (1792 - 1871), H. là những người đã đóng góp cho khoa học quản lý và làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn. Ở Việt Nam Bước vào thế kỷ 21, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, tri thức được coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế, Giáo dục và QLGD là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự phát triển của đất nước ta.
Thời kỳ gần đây, chúng ta đã có hàng loạt thành tựu khoa học quản lý nói chung, khoa học QLGD nói riêng. Sự nghiệp đổi mới GD ở nước ta hiện nay cho thấy công tác nghiên cứu về QLGD có vai trò rất quan trọng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn 4 Ngọc Quang,. đề cập đến vấn đề QLGD, nâng cao chất lượng GD&ĐT của Việt nam và những biện pháp quản lý HĐD-H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Nghiên cứu về “Những biện pháp tăng cường quản lý công tác giảng dạy của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng tại trường Đại học Dân lập Hải Phòng” của Hồ Văn Giỏi (2005) đã đề xuất được 4 biện pháp là: Biện pháp tăng cường công tác kế hoạch hóa, biện pháp tăng cường công tác tổ chức, biện pháp tăng cường công tác lãnh đạo/chỉ đạo. Hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng tâm của quá trình D-H, quyết định sự thành công của quá trình D-H. Do vậy, việc quản lý hoạt động giảng dạy nhất là hoạt động giảng dạy của GVTG là một vấn đề quan trọng của Trường, của ngành GD và của toàn xã hội, là một trong những vấn đề trọng tâm và then chốt quyết định chất lượng đào tạo của Trường. Nghiên cứu về vấn đề quản lý HĐD-H đã có nhiều tác giả như: Bùi Anh Đào [18], Lê Minh Hiền [24], Đặng Thị Xuân Lương [30],.
nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của GVTG tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội. Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học chuyên ngành QLGD tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của GVTG tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, từ đó đề xuất “Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thỉnh giảng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tối đa nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Du lịch. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý 1.
Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành các "lý thuyết quản lý". Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: K.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập 5 của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [27, tr.
Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ". "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [10, tr. Henri Fayol (1841 - 1925) thì lại xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý khi cho rằng: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [10, tr. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [26, tr.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: quản lý là "tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan", là "trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì" [42, tr. Nghĩa Hán Việt của "Quản" là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình "Lý" bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển. Trong "quản" phải có "lý" thì toàn hệ mới có thể phát triển, trong "lý" phải có "quản" thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững [10, tr. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Theo cố tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước" [33, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” [2]. Quản lý = Quản + Lý 6 Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định. - Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" hay hiện nay, Hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [9, tr. Từ những quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản lý là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý tồn tại trong mọi quá trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và phát triển. Trong khái niệm quản lý ta cần chú ý đến các yếu tố sau: - Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra những tác động quản lý. Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý? - Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý. Khách thể quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?).
Các chức năng cơ bản của quản lý Quản lý là một quá trình, một khoa học, một nghệ thuật và có những chức năng riêng của nó. Chức năng quản lý biểu thị hình thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Có nhiều cách khác nhau phân loại các chức năng quản lý. Căn cứ vào các giai đoạn thực hành thì quản lý có bốn chức năng cơ bản là: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
7 - Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là "xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu mục đích đó" [9, tr. Kế hoạch hóa có vai trò quan trọng vì nó là chức năng khởi đầu của quá trình QL, tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Nó cho phép nhà QL hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức, kịp thời phát hiện, ứng phó với sự thay đổi và tính không chắc chắn của môi trường, giúp tổ chức tập trung sự chú ý vào các mục tiêu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra. - Tổ chức: Tổ chức là "quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức" [9, tr.