ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia nằm ở Đông Nam Á châu Á, bên bờ biển Đông, có vùng biển rộng lớn trên 1 triệu km2, chiều dài bờ biển là 3. Cảnh núi rừng trùng điệp, biển rộng trải dài từ Bắc vào Nam, phong cảnh thiên nhiên rất độc đáo và hùng vĩ. Biển có tác động mạnh và ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trƣờng của mọi miền đất nƣớc. Biển đƣợc coi là con đƣờng chiến lƣợc giao lƣu thƣơng mại quốc tế, trong đó Việt Nam là đầu mối quan trọng, là điều kiện trong giao lƣu kinh tế, hội nhập và hợp tác quốc tế.
Thái Bình là tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ, có hai huyện giáp biển. Đó là Tiền Hải và Thái Thụy. Huyện Thái Thụy có 27 km bờ biển, 3 cửa sông đổ ra biển với khoảng 12.500 ha diện tích bãi ngập nƣớc, hàng chục nghìn ha rừng ngập mặn (RNM), có 5 xã và 1 thị trấn tiếp giáp với biển. Cách thị trấn Diêm Điền 7 km về phía Đông Bắc, đi theo tuyến đê biển là xã Thụy Trƣờng, xã ven biển của huyện Thái Thụy tiếp giáp với hai huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (Thành phố (TP) Hải Phòng).
Xã có diện tích tự nhiên là 903 ha, có bờ biển dài 4,5 km với 1500 ha diện tích RNM và 260 ha diện tích đầm ao nuôi trồng thủy sản, đa dạng về hệ sinh thái, số lƣợng loài lớn, là môi trƣờng sinh thái của các loài sinh học động thực vật nhƣ chim, thú, côn trùng, các loài thủy – hải sản: tôm, cua, còng, cá, rong, tảo biển. RNM là hệ sinh thái quan trọng cho năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới. RNM không chỉ cung cấp nhiều lâm sản có giá trị mà còn là nơi sống và ƣơm mầm của nhiều loài thủy sinh vật. RNM còn có tác dụng trong việc bảo vệ và điều hòa khí hậu nhƣ: chống xói mòn, sạ lở đất đai, đê điều, chống xâm thực của nƣớc biển, cung cấp nguồn thức ăn cho nhiều loài sinh vật, bảo vệ đê biển, làm giảm độ cao của sóng khi triều cƣờng,.
RNM còn là nơi bảo vệ các động vật khi nƣớc triều dâng và sóng lớn. Nhiều loài động vật đáy sống trong hang hoặc trên mặt bùn, khi thời tiết bất lợi, nƣớc triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng nhƣ: cá lác, còng, cáy,. Khi lặng gió và nƣớc triều xuống thấp, chúng trở lại nơi cũ. Chính vì thế cho nên RNM luôn phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, hiện trạng RNM tại xã Thụy Trƣờng đang đứng trƣớc nguy cơ suy giảm không chỉ do con ngƣời mà còn do côn trùng và động vật hại gây ra. Theo các thông tin cho thấy, mỗi năm huyện Thái Thụy tiến hành trồng 200 ha RNM, tuy nhiên tỷ lệ sống của cây chỉ đạt 15 %. RNM là tài nguyên đem lại lợi nhuận cao cho ngƣời dân sinh sống bằng việc khai thác các nguồn lợi từ rừng nhƣ: nuôi trồng thủy sản, đánh bắt cua, còng, tôm… Với sự phát triển của các loài động vật gây hại sẽ làm cho diện tích RNM bị suy giảm và ảnh hƣởng tới cảnh quan, sinh thái và cuộc sống của ngƣời dân vùng biển. Diện tích RNM bị thu hẹp đã gây nên hiện tƣợng xâm thực của nƣớc biển, đất đai bị phèn chua, nhiều loài thủy – hải sản không còn nơi sinh sống.
Vì vậy, việc quản lý tốt động vật gây hại cho RNM là một trong những vấn đề đang đƣợc quan tâm không chỉ ở xã Thụy Trƣờng mà còn là vấn đề của tất cả các tỉnh có RNM trên cả nƣớc cũng nhƣ thế giới. Hệ sinh thái RNM rất đa dạng và phong phú về thành phần loài động – thực vật. Có rất nhiều loài động vật sinh sống trong RNM, chúng có vai trò trong việc cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trƣờng RNM. Tuy nhiên, một số loài động vật trong hệ sinh thái RNM có thê gây hại cho sự sinh trƣởng và phát triển của các loài cây ngập mặn.
Vì vậy, các nhà quản lý cũng nhƣ chủ rừng cần có các biện pháp để trồng rừng đạt hiệu quả cao bằng việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ cây khỏi sâu bệnh cũng nhƣ động vật hại mà không biết đến việc sử dụng thuốc BVTV làm ảnh hƣởng tới các loài động vật khác sinh sống trong RNM. Điều đó làm cho các HST động – thực vật trong RNM bị phá vỡ dẫn đến suy giảm thành phần và số lƣợng loài, giảm tính đa dạng sinh học. Không chỉ có thế, việc sử dụng không đúng thuốc BVTV còn gây ô nhiễm môi trƣờng làm ảnh hƣởng đến sức khỏe và đời sống ngƣời dân. Do đó, việc bảo vệ RNM cần dựa trên quan điểm phòng trừ, quản lý động vật hại đúng phƣơng pháp, thời điểm, đúng đối tƣợng gây hại và đặc biệt hạn chế ảnh hƣởng tới các loài động vật khác sinh sống trong RNM.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” đƣợc thực hiện nhằm xác định đƣợc các loài côn trùng và động vật gây hại cho RNM, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ RNM an toàn và hiệu quả cao. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về côn trùng và động vật hại trên thế giới Trên thế giới, những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây lâm nghiệp nói riêng rất phong phú. Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh học, sinh thái học của các loài sâu hại, loại bệnh hại và các biện pháp phòng trừ, trong đó có những nghiên cứu về côn trùng có ích, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích theo hƣớng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp.
Ngƣời ta dự đoán số loài côn trùng chƣa đƣợc biết đến trong rừng nhiệt đới ƣớc tính từ 5 – 30 triệu (May, 1992). Nếu con số 10 triệu loài côn trùng đƣợc chấp nhận thì có nghĩa là số lƣợng côn trùng tìm thấy tại các vùng nhiệt đới chiếm đến trên 90% số loài vi sinh vật trên trái đất. Vai trò của côn trùng trong tự nhiên có hai mặt cơ bản là tích cực và tiêu cực. Theo Watson, More (1975) “Sổ tay chỉ dẫn về thực tiễn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM)” đã đƣa ra hƣớng dẫn sử dụng kỹ thuật sẵn có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp.
Năm 1984, Neisses, Garner, Havey đã thảo luận về việc ứng dụng phƣơng pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp trong kinh doanh lâm nghiệp ở Mỹ. Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự cạnh tranh giữa các loài sâu bệnh hại (chủ yếu là sâu hại) và các loài cỏ dại có thể là nhân tố có tác dụng trong việc quản lý sâu bệnh hại. Sử dụng phƣơng pháp mô phỏng trong quản lý côn trùng ký sinh phục vụ phòng trừ sâu hại họ Ngài khô lá, Ravlin và Haynes (1987) đã xây dựng mô hình trong đó có sự phối hợp giữa số liệu điều tra mật độ sâu hại, xu hƣớng phát triển của quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ. Mô hình nhấn mạnh sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không có ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng.
4 Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình về phân loại và đặc điểm sinh học sinh thái của côn trùng rừng Vân Nam. Nhiều loài sâu hại đƣợc mô tả trong tài liệu này cũng thấy xuất hiện ở Việt Nam nhƣ sâu hại thông, keo. Năm 1990, Murphy mô tả đặc tính sinh học của 102 loài côn trùng ăn thực vật rừng ngập mặn ở Singapore và các khu vực lân cận với Tây Malaysia. Trong báo cáo cho thấy, ấu trùng của bƣớm đêm và ấu trùng lẫn bọ cánh cứng trƣởng thành là các loài côn trùng ăn thực vật rất phổ biến ở rừng ngập mặn.
Các nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính của các loài sâu hại cây lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu “Côn trùng rừng Trung Quốc” của Xiao Gangrou (1991), các loài côn trùng thiên địch trong “Sổ tay côn trùng thiên địch”, “Tạp chí bọ rùa Vân Nam” của Tào Thành Nhất. Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain đã có công trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng. Thông qua các chƣơng trình này IPM từng bƣớc đã đƣợc hoàn thiện. Các chƣơng trình đã gắn sự hiểu biết về môi trƣờng với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đƣa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu bệnh hại lâm nghiệp và có thể cho cả ngành nông nghiệp.
Năm 1989, Díaz và Conde đã có nghiên cứu về loài cua Aratus pisonii (Grapsidae) trong rừng ngập mặn từ phía đông bắc Brazil Florida trên bờ biển Đại Tây Dƣơng và từ Nicaragua đến Peru trên bờ biển Thái Bình Dƣơng. Goyer (1991), “Phòng trừ tổng hợp loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nƣớc Mỹ” cho rằng: điều tra thƣờng xuyên thực trạng sâu ăn lá rừng là rất quan trọng cho chiến lƣợc sử dụng IPM. Sử dụng bẫy Pheromone, từ đó tính ra mật độ loài là rất quan trọng, ông cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hóa học truyền thống đã gây ảnh hƣởng lớn đến kinh tế và môi trƣờng, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật rừng. Raske, Wickmn, “Hƣớng dẫn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp ở rừng 5 rộng lá” đã khẳng định: IPM ở các nƣớc khác nhau là khác nhau là khác nhau với từng vật gây hại cụ thể.
Đóng góp của IPM có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Các vấn đề về kinh tế, xã hội (bao gồm cả chiến lƣợc của các chính phủ) là rất quan trọng đối với IPM. Năm 1994, Evans, Fielding trong chƣơng trình phòng chống loài Dendrotonus micans hại vỏ cây Vân sam ở nƣớc Anh đã nêu nên cơ sở của việc phòng chống loài sâu này đó là sự phối hợp các biện pháp quản lý rừng nhƣ chặt vệ sinh rừng, vận chuyển nhanh sản phẩm khai thác và phƣơng pháp sinh học nhƣ sử dụng Hổ trùng ăn thịt Rhizophogus grandis nhập nội, chăm sóc và thả vào rừng. Hiện nay số lƣợng loài sâu này đã giảm đi rõ rệt chứng tỏ tác dụng tích cực của loài Rhizophogus grandis là rất tốt, việc nhân rộng loài này là nhân tố quan trọng để điều chỉnh mật độ loài Dendrotonus micans.