Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp, hoạt động thu thập chứng cứ giữ vai trò nền tảng nhằm bảo đảm tính khách quan và công bằng cho mọi phán quyết. Theo ước tính từ thực tiễn xét xử, các sai sót liên quan đến thu thập chứng cứ và ghi nhận lời khai chiếm khoảng 15% đến 20% tổng số bản án dân sự bị cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm tuyên hủy, sửa. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa quy trình lấy lời khai của đương sự theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp và khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết các mâu thuẫn pháp lý tại Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đồng thời làm rõ sự bất cập giữa quy định lý thuyết với thực tiễn thực hiện của Tòa án các cấp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm 03 nhiệm vụ cốt lõi: hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp lấy lời khai, khảo sát thực tiễn áp dụng và chỉ ra các rào cản tố tụng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các vụ việc dân sự thực tế tại hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2016 đến năm 2022, thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đi vào thực thi sâu rộng. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hướng đến mục tiêu giảm thiểu ít nhất 25% các vi phạm tố tụng hình thức, rút ngắn thời gian chuẩn bị xét xử trung bình từ 04 tháng xuống mức tối ưu, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của 100% các đương sự tham gia tố tụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 02 lý thuyết pháp lý trụ cột: Lý thuyết về quyền tiếp cận công lý gắn liền với nguyên tắc tranh tụng dân sự, và Lý thuyết về phân bổ nghĩa vụ chứng minh trong luật tố tụng hiện đại. Khung phân tích này làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa trách nhiệm tự chứng minh của đương sự với quyền hạn thu thập chứng cứ bổ trợ của cơ quan xét xử.

Hệ thống lý luận vận hành xoay quanh 04 khái niệm pháp lý chủ chốt:

  1. Đương sự trong tố tụng dân sự theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Lời khai của đương sự với tư cách là nguồn chứng cứ hợp pháp theo quy định tại Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  3. Biện pháp lấy lời khai của đương sự theo Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  4. Biên bản lấy lời khai theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Mô hình nghiên cứu kết nối trực tiếp giữa tính chuẩn xác của thủ tục thu thập lời khai ban đầu với tỷ lệ duy trì hiệu lực của bản án sơ thẩm, chứng minh rằng sự hoàn thiện của thủ tục tố tụng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm bản chất khách quan của vụ án.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp gồm 12 bản án, quyết định giám đốc thẩm và thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ điển hình giai đoạn 2016 - 2022 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án địa phương. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để lựa chọn các vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quyền sử dụng đất và hôn nhân gia đình có sai phạm nghiêm trọng về thủ tục lấy lời khai dẫn đến hủy án.

Quá trình phân tích kết hợp 04 phương pháp khoa học chuyên sâu:

  • Phương pháp phân tích luật viết: Đánh giá câu chữ, cấu trúc logic của Điều 98, Điều 99 và Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Phương pháp phân tích án lệ và thực tiễn: Khảo sát nguyên nhân sai sót trong việc lập biên bản hoặc bỏ sót đương sự.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP.
  • Phương pháp tổng hợp quy nạp: Đúc kết các bất cập thực tế thành 04 nhóm vấn đề cần cải cách.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều, bám sát các tình huống pháp lý phát sinh từ thực tế phòng xử án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn giai đoạn 2016 - 2022 đã chỉ ra 04 điểm nghẽn pháp lý và nghiệp vụ nghiêm trọng:

Thứ nhất, tồn tại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự tại Điều 6, Điều 70, Điều 91 với quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thực tế ghi nhận khoảng 65% trường hợp Thẩm phán thụ lý phải gánh vác trách nhiệm xác minh thay đương sự. Điển hình như Bản án số 1148/2018/DS-PT của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm chỉ vì Tòa án cấp dưới chưa trực tiếp đi xác minh nhân khẩu của hộ gia đình sử dụng đất.

Thứ hai, tình trạng vi phạm thẩm quyền lấy lời khai diễn ra phổ biến. Do áp lực thụ lý án tăng từ 10% đến 15% mỗi năm, ước tính trên 70% các vụ việc dân sự đơn giản tại cấp huyện do Thư ký Tòa án tiến hành lấy lời khai nhưng không có văn bản ủy quyền chính thức từ Thẩm phán. Sai phạm nghiêm trọng tại Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước trong Quyết định số 14/2017/QĐST-DS khi Thư ký tự lập khống biên bản và ghi thêm lời khai đã dẫn đến việc thi hành án phát mại tài sản sai lệch trị giá hơn 1,6 tỷ đồng.

Thứ ba, sự tắc nghẽn thời hạn trong hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ theo Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điển hình tại Quyết định ủy thác số 47/2020/QĐ-UTTA của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ gửi Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thời gian thực hiện kéo dài đến 01 tháng 26 ngày (tương đương 56 ngày), vượt quá thời hạn yêu cầu 01 tháng, làm gián đoạn nghiêm trọng thời hạn chuẩn bị xét xử 04 tháng theo Điều 203.

Thứ tư, thiếu hụt quy định lấy lời khai đặc thù đối với đối tượng yếu thế. Trong các vụ án ly hôn, việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi đến dưới 18 tuổi theo khoản 3 Điều 208 còn hình thức, chưa xác định rõ tư cách tố tụng như trong Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt. Tương tự, Bản án số 03/2017/QĐDS-ST của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin cũng cho thấy sự lúng túng khi lấy lời khai người có khó khăn trong nhận thức mà có đến 02 người giám hộ đại diện.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên cho thấy nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ kỹ thuật lập pháp chưa đồng bộ, chưa có nghị quyết hướng dẫn riêng biệt thay thế Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP trước đây. Dữ liệu thực tiễn phản ánh rằng sai sót về thủ tục lấy lời khai chia thành 03 nhóm chính: sai về thẩm quyền chủ thể (chiếm khoảng 45%), sai về hình thức biên bản (chiếm 30%), và vi phạm thời hạn ủy thác (chiếm 25%). Toàn bộ các thông số này có thể được lượng hóa rõ ràng thông qua bảng phân loại vi phạm tố tụng và biểu đồ tỷ lệ án hủy theo từng nhóm nguyên nhân.

Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ thông tin theo tinh thần Nghị quyết số 33/2021/QH15 về phiên tòa trực tuyến và Chỉ thị số 02/2020/CT-CA còn gặp khoảng trống pháp lý lớn khi chưa có quy chuẩn ghi âm, ghi hình và xác thực lời khai trực tuyến qua ứng dụng gọi video có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã chứng kiến.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao chất lượng xét xử trong giai đoạn 2024 - 2026, luận văn kiến nghị 05 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Hoàn thiện quy định tại Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Quốc hội cần sửa đổi theo hướng xác lập nghĩa vụ đương sự phải tự nộp bản tự khai; Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai trực tiếp khi đương sự là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn hoặc có yêu cầu trợ giúp hợp pháp. Mục tiêu giảm 30% áp lực hành chính không cần thiết cho Tòa án.

  2. Trao quyền lấy lời khai có điều kiện cho Thư ký Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn cho phép Thẩm phán ủy quyền bằng văn bản cho Thư ký lấy lời khai đối với các vụ án đơn giản (tranh chấp hợp đồng vay tài sản giá trị nhỏ, ly hôn không tranh chấp tài sản) căn cứ theo trình độ cử nhân luật quy định tại Điều 92 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

  3. Chuẩn hóa quy trình lấy lời khai trực tuyến: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn lấy lời khai qua video call có ghi âm, ghi hình, áp dụng chữ ký số hoặc có sự tham gia xác nhận trực tiếp của đại diện Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã nơi đương sự cư trú.

  4. Bổ sung cơ chế gia hạn ủy thác tại Điều 105: Cho phép gia hạn ủy thác tối đa 01 tháng khi gặp sự kiện bất khả kháng; đồng thời Tòa án nhân dân tối cao cần đưa chỉ tiêu thực hiện ủy thác tư pháp vào thang điểm thi đua, khen thưởng hằng năm của Thẩm phán và Thư ký Tòa án.

  5. Sửa đổi mẫu biên bản lấy lời khai số 02 ban hành kèm Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP: Quy định bắt buộc đương sự phải ký hoặc điểm chỉ giáp lai từng trang biên bản; đồng thời Ủy ban nhân dân và Tòa án cấp tỉnh ký quy chế phối hợp cử người làm chứng khi lấy lời khai ngoài trụ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị ứng dụng chuyên sâu cho 04 nhóm đối tượng trọng tâm trong hệ thống tư pháp:

  • Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án: Tài liệu đóng vai trò là cẩm nang nghiệp vụ chuẩn xác giúp hạn chế tối đa các sai sót thu thập chứng cứ, giảm tỷ lệ án bị hủy sửa xuống dưới 1%, đồng thời nắm vững kỹ năng xử lý tình huống khi lấy lời khai ngoài trụ sở hoặc ủy thác chứng cứ.

  • Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện để xây dựng chiến lược tranh tụng, hướng dẫn khách hàng soạn thảo bản tự khai chuẩn mực và giám sát tính hợp pháp của biên bản lấy lời khai do cơ quan tiến hành tố tụng lập.

  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Luật: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về Chứng minh và Chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam.

  • Cơ quan lập pháp và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc phục vụ việc tổng kết thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và xây dựng các Nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thẩm phán bắt buộc phải tiến hành lấy lời khai của đương sự trong trường hợp nào? Theo quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản tự khai chưa đầy đủ, rõ ràng, hoặc đương sự không thể tự viết được do không biết chữ, khuyết tật.

  2. Thư ký Tòa án có được quyền tự mình tiến hành lấy lời khai đương sự không? Theo khoản 3 Điều 48 và Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hiện hành, Thư ký Tòa án không có thẩm quyền độc lập tự mình lấy lời khai. Mọi biên bản do Thư ký lập khi vắng mặt Thẩm phán mà không có văn bản ủy quyền hợp thức đều là hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, như đã xảy ra tại Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.

  3. Thủ tục lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi trong vụ án ly hôn có được xem là lấy lời khai đương sự không? Không. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi là thủ tục tố tụng đặc thù nhằm xem xét nguyện vọng nuôi dưỡng, người con không phải là đương sự có quyền lợi nghĩa vụ liên quan độc lập như Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST đã đính chính.

  4. Việc lấy lời khai của đương sự qua mạng internet có giá trị pháp lý làm chứng cứ không? Lời khai qua phương tiện điện tử có thể xem là nguồn chứng cứ theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nếu được ghi nhận dưới dạng dữ liệu âm thanh, hình ảnh rõ ràng và có sự đồng thuận xác nhận của đương sự cùng người làm chứng hoặc chính quyền địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 33/2021/QH15.

  5. Thời hạn thực hiện ủy thác lấy lời khai giữa các Tòa án được pháp luật quy định thế nào? Theo Điều 105 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn thực hiện ủy thác thông thường là 01 tháng kể từ ngày nhận quyết định. Nếu Tòa án nhận ủy thác chậm trễ như vụ việc tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều (kéo dài 56 ngày), Tòa án ủy thác cần ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để tránh vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 04 phương thức và thủ tục lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Đánh giá thực trạng từ 12 vụ án thực tế, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng hủy, sửa bản án do vi phạm thẩm quyền và quy trình lập biên bản.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng công nghệ số và phương thức lấy lời khai trực tuyến bảo đảm an toàn dữ liệu và tính trực tiếp.
  • Đề xuất hoàn thiện Điều 98, Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự và sửa đổi biểu mẫu biên bản số 02 nhằm bảo đảm tính chặt chẽ trong tố tụng.
  • Đưa ra lộ trình cải cách lập pháp giai đoạn 2024 - 2026, góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng và bảo vệ quyền tiếp cận công lý của mọi công dân.

Công trình là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn sâu sắc, kêu gọi các nhà nghiên cứu, chuyên gia pháp lý và cơ quan lập pháp tiếp tục thảo luận, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành nhằm xây dựng nền tư pháp văn minh, hiện đại.