CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG THỨC LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Lấy lời khai trực tiếp của đương sự Theo khoản 1 Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự.
Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án. Trước đây, theo Điều 6 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ” nhằm đảm bảo thi hành đúng và thống nhất các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung của bản khai chưa đầy đủ, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự viết bản khai hoặc bản khai bổ sung và ký tên của mình.
Chỉ trong trường hợp đương sự không thể tự viết được, thì Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải làm đúng quy định của pháp luật. Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, quy định đối với cán bộ, công chức của ngành Tòa án nhân dân và bảo đảm khách quan (ví dụ: lấy lời khai của đương sự đang bị tạm giam phải được thực hiện tại Trại tạm giam theo bố trí của Ban Giám thị Trại tạm giam; lấy lời khai của đương sự bị ốm đau nhưng không đi điều trị tại cơ sở y tế phải được thực hiện tại nơi họ đang điều trị và nếu xét thấy cần thiết thì mời người chứng kiến…). Qua thực tiễn về biện pháp lấy lời khai của đương sự, tác giả nhận thấy có một số bất cập như sau: 9 Thứ nhất, về căn cứ lấy lời khai đương sự: Theo Điều 6 BLTTDS, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Theo quy định này, việc cung cấp lời khai của đương sự về nội dung vụ việc, các tình tiết mà dựa vào đó đương sự đề xuất yêu cầu hoặc phản đối, phản tố yêu cầu của đương sự khác là quyền, nghĩa vụ của đương sự. Theo khoản 5 Điều 70 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo khoản 1 Điều 91 BLTTDS, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Theo khoản 1 Điều 96 BLTTDS, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự. Theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS, Tòa án có thể tiến hành biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng để thu thập tài liệu, chứng cứ. Với các quy định nêu trên, việc cung cấp thông tin, tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của minh là có căn cứ và hợp pháp là nghĩa vụ của đương sự.
Nói cách khác, chứng minh là nghĩa vụ của đương sự, trong đó, có hoạt động cung cấp lời khai. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 98 BLTTDS lại quy định Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Với cách lập pháp này có hai cách hiểu: Cách hiểu thứ nhất, việc lấy lời khai của đương sự là nghĩa vụ của Tòa án. Bởi: sau khi thụ lý, muốn nắm được thông tin thì Thẩm phán phải tiến hành lấy lời khai của đương sự vì trong hồ sơ vụ án không có biên bản lấy lời khai của 10 đương sự.
Tương tự, Tòa án cấp trên sẽ hủy bản án nếu Tòa án cấp dưới không lấy lời khai của đương sự. Cách hiểu thứ hai, việc lấy lời khai của đương sự không phải là nghĩa vụ của Tòa án. Đương sự muốn được Tòa án bảo vệ quyền lợi thì họ phải cung cấp bản khai về nội dung vụ án, tình tiết các sự việc. Khi cần thiết, Tòa án có thể tiến hành lấy lời khai của đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS.
Theo quy định này, việc lấy lời khai là quyền của Tòa án và không phải là căn cứ để Tòa án cấp trên hủy bản án của Tòa án cấp dưới. Ví dụ: Bản án 1148/2018/DS-PT ngày 30 tháng 11 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh1. Trong bản án, HĐXX nhận định: “Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 243/QSDĐ/Hưng Long ngày 09 tháng 10 năm 2001 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Trần Thị X trong đó thửa 251 tờ bản đồ số 13 có diện tích 858 m2. Giấy chứng nhận nêu trên được cấp cho Hộ gia đình bà Trần Thị X theo Quyết định số 113/QĐ-UB của uy ban nhân dân huyện ngày 19 tháng 4 năm 1995.
Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất của bà Trần Thị X ngày 17 tháng 8 năm 1994 thể hiện tại thời điểm xin cấp Giấy chứng nhận số nhân khẩu trong hộ bà Xê là 03 người. Tại công văn cung cấp thông tin ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Uỷ ban nhân dân xã L và Công văn số 4187/TNMT- PC của Phòng Tài nguyên và Môi trường - Ủy ban nhân dân huyện C thể hiện nguồn gốc đất là cấp cho hộ bà Trần Thị X. Tuy nhiên hồ sơ cấp Giấy chứng nhận không thể hiện cụ thể hộ gia đình bà Trần Thị X bao gồm những nhân khẩu nào. Theo quy định tại Mục 1 Chương IV Bộ luật dân sự 1995 về hộ gia đình và theo hướng dẫn tại khoản 4 phần 3 Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm cần tiến hành xác minh tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ bà X có bao nhiêu nhân khẩu để đưa những người đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ”.vn/banan/ban-an/ban-an-11482018dspt-ngay-30112018-ve-tranh-chap-quyen-su-dung- dat-98525, truy cập lúc 6h ngày 10.
11 Với nhận định trên, trách nhiệm xác định thành viên của hộ gia đình là của Tòa án chứ không phải của đương sự. Thực chất, Tòa án khó mà xác định được thành viên hộ gia đình sử dụng đất trong vụ án này. HĐXX phúc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa thu thập đầy đủ chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, cần hủy bản án sơ thẩm và quyết định: “Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: số 124/2018/DSST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm”. Theo tác giả, quy định về nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, lời khai chưa nhất quán, rõ ràng và cụ thể.
Một mặt, khẳng định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, mặt khác, trách nhiệm thu thập thông tin vụ việc dân sự thuộc về Tòa án. Quy định này buộc Tòa án sau khi thụ lý phải lấy lời khai của đương sự thành nghĩa vụ của cơ quan xét xử. Quy định tại khoản 1 Điều 98 BLTTDS còn lập lờ, không phân định rõ nghĩa vụ của đương sự, Tòa án trong việc cung cấp, thu thập thông tin về vụ án dân sự. Dưới góc độ nghiên cứu, việc thu thập chứng cứ của Tòa án trong việc lấy lời khai của đương sự, có hai quan điểm.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại Điều 98, Điều 99 BLTTDS mà không phải chờ đương sự yêu cầu. Quan điểm thứ hai cho rằng, căn cứ vào quy định của BLTTDS về việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, Thẩm phán phải xác định được trường hợp nào cần phải có yêu cầu của đương sự. Theo tác giả, Tưởng Duy Lượng2, Nguyễn Đức Mai “chỉ khi đương sự có yêu cầu, thì Tòa án mới tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau đây:…” 3 và “Tòa án chỉ có thể tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp chứng cứ sau đây…”4. Về cơ bản, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai nhưng không hoàn toàn.
Tùy từng trường hợp vụ, việc cụ thể, Thẩm phán mới thực hiện hoạt động này. 2 Tưởng Duy Lượng (2014), Pháp luật Tố tụng dân sự và trong thực tiễn xét xử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr. 3 Nguyễn Đức Mai (2004), “Bình luận khoa học BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011”, NXB Chính trị quốc gia, tr. 4 Nguyễn Đức Mai (2004), tlđd (3), tr.
12 Nhiệm vụ chính của Thẩm phán là áp dụng pháp luật, nên nếu giao cho Thẩm phán thực hiện nhiều hoạt động thu thập chứng cứ, ảnh hưởng đến kết quả xét xử của Tòa án nhân dân. Theo khoản 1 Điều 99 BLTTDS, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự vừa mang tính chất tùy nghị, vừa mang tính chất bắt buộc và có thể nhận định theo ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật.