phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về công tác QLT TNDN Chƣơng 2: Thực trạng công tác QLT TNDN tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2017 Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chung về thuế 1. Khái niệm Thuế ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nƣớc.
Để duy trì và đảm bảo lợi ích kinh tế của mình, nhà nƣớc cần có một nguồn lực tài chính nhằm trang trải cho những khoản chi tiêu của mình, đồng thời cũng để giải quyết các vấn đề của xã hội. Nhà nƣớc dùng thuế là một công cụ huy động nguồn tài chính trong nhân dân và các tổ chức kinh tế vào ngân sách nhà nƣớc (NSNN).[2] Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nƣớc do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tƣợng chịu thuế.[2] Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp mà là gián tiếp thông qua việc sử dụng các công trình, dịch vụ công cộng nhƣ trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội, đƣờng xá, cầu cống, bệnh viện, trƣờng học…Do đó, tại thời điểm nộp thuế, ngƣời nộp thuế (NNT) không đƣợc hƣởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem nhƣ đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nƣớc. Nhƣ vậy, thuế mang tính cƣỡng chế và đƣợc thiết lập theo nguyên tắc luật định.[3] Thuế luôn gắn liền với quyền lực nhà nƣớc. Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngƣợc lại thuế là phƣơng tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực của nhà nƣớc.Stiglitz: “Thuế đƣợc hình thành từ rất lâu đời, bằng hình thức cung cấp dịch vụ cho ngƣời cai quản, đây là một trong những hình thức đơn giản, đầu tiên của thuế và sau này là tiền lệ hóa trở thành những nghĩa vụ nộp thuế bằng nhiều hình thức, nhƣng cao nhất là bằng tiền.[3] Mác đã nói: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nƣớc là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu đƣợc tiền hay tài sản của dân dùng vào việc chi tiêu của Nhà nƣớc”.
Anghen cũng nói: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần có sự đóng góp của 5 nhân dân cho Nhà nƣớc, đó là thuế má”. Do lúc này nhà nƣớc chỉ thu thuế để phục vụ nhu cầu của nhà nƣớc, và là phƣơng pháp hữu hiệu nhất mà chƣa có sự quan tâm tới việc thực hiện phục vụ đời sống nhân dân. Do đó cả Mác và Anghen đều chỉ đề cập tới vai trò đóng thuế của nhân dân nhƣ một sự bóc lột và coi đó là “thủ đoạn đơn giản” của Nhà nƣớc.Jege trong cuốn “Tài chính công” cho rằng: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nƣớc”. Đây là khái niệm nổi tiếng nhất về thuế.
Nhƣng không phân định thuế đuộc bù đắp vào công việc gì và trong nhiều trƣờng hợp, thuế không chỉ bù đắp chi tiêu mà còn dùng để phát triển kinh tế, xã hội. Do đó sau này quan niệm này đƣợc thay đổi nhƣ sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nƣớc trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc”. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa tồn tại nhiều thành phần kinh tế, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thƣờng xuyên không ngừng tăng lên của đất nƣớc, hệ thống các khoản thu về thuế, phí, lệ phí phải đảm bảo đến 90% tổng số thu NSNN. Trong đó, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc.
Để thực hiện tốt điều này thì Nhà nƣớc cần phải xây dựng một chính sách thuế đảm bảo các yếu tố sau: + Hệ thống thuế phải bao quát hết mọi nguồn thu có thể khai thác đƣợc, tích lũy vào ngân sách nhà nƣớc mọi hoạt động kinh doanh, từ mọi nguồn thu nhập…Mỗi sắc thuế chỉ đảm bảo một số chức năng, mục đích nhất định. Đồng thời hỗ trợ, bổ sung cho nhau để phát huy toàn diện của cả hệ thống thuế. + Chính sách động viên về thuế cần có tác dụng ổn định bồi dƣỡng nguồn 6 thu vững chắc, lâu dài cho ngân sách nhà nƣớc. + Cơ cấu thuế suất không nên phức tạp, thuế suất không nên quá cao mà cần đƣợc tính toán kỹ lƣỡng phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân.
+ Hệ thống thuế phải tập trung thống nhất và đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. + Thuế là công cụ để thực hiện các định hƣớng, chủ trƣơng của nhà nƣớc để phát triển xã hội. + Tùy từng tình hình cụ thể, thuế là công cụ góp phần điều tiết nền kinh tế của đất nƣớc, từ khâu sản xuất đến khâu lƣu thông, phân phối điều chỉnh các thành phần kinh tế hoạt động theo định hƣớng phát triển của đất nƣớc, điều chỉnh hợp lý cơ cấu kinh tế giữa các nghành nghề, các địa phƣơng, các vùng kinh tế… + Để bảo hộ nền kinh tế trong nƣớc, nhà nƣớc cần đặt ra hàng rào thuế quan để ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hóa nƣớc ngoài vào quốc gia mình. Để hạn chế ngƣời tiêu dùng dùng những mặt hàng xa xỉ, cao cấp, nhƣ : Ô tô, thẻ chơi golf, bia, rƣợu nhập ngoại, điều hòa nhiệt độ, thuốc lá điếu…, nhà nƣớc cần áp mức thuế suất cao hơn nữa với những mặt hàng này.
+ Để khuyến khích hoạt động xuất khẩu nhà nƣớc có thể áp dụng chính sách miễn giảm thuế đối với hoạt động này nhằm cân bằng cán cân thƣơng mại. + Trong hoàn cảnh thu nhập xã hội có sự chênh lệch lớn giữa các tầng lớp dân cƣ, nhà nƣớc phải điều hòa thu nhập thông qua công cụ thuế, nghĩa là ngƣời có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn ngƣời có thu nhập thấp. Tuy nhiên không vì thế mà không khuyến khích ngƣời dân làm giàu bằng thu nhập chính đáng của họ. + Nhà nƣớc sử dụng một phần thuế để đáp ứng một phần chi tiêu, thực hiện chính sách xã hội, phúc lợi công cộng, trợ cấp khó khăn, xóa đói giảm nghèo… nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tần lớp dân cƣ.
Phân loại thuế 1. Phân loại theo bản chất thuế được chia thành 02 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. 7 Thuế trực thu: - Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của ngƣời nộp thuế, NNT cũng là ngƣời chịu thuế. Thuế trực thu khác với thuế gián thu ở chỗ không đƣợc cộng vào giá hàng hóa, dịch vụ nghĩa là không chuyển dịch cho ngƣời tiêu dùng chịu.
Việc động viên ngân sách qua thuế trực thu có tính công bằng hơn so với thuế gián thu, vì phần đóng góp thuế phù hợp với khả năng của từng đối tƣợng, thu nhập cao thì nộp thuế nhiều thu nhập ít thì nộp thuế ít, thu nhập chỉ đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Tuy nhiên, thuế trực thu còn có một số khuyết điểm nhất định trong việc gia tăng thu nhập của các đối tƣợng vì thu nhập càng cao thì nộp thuế càng nhiều. Ngoài ra tính chất của thuế trực thu là nộp thuế trực tiếp nên họ cảm nhận rất rõ gánh nặng về thuế và từ đó có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn thuế. Ví dụ: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
Thuế gián thu: - Là loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập của các đối tƣợng, thuế đánh vào tiêu dùng, thuế này do ngƣời lao động hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ cho nhà nƣớc nhƣng ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế, doanh nghiệp chuyển thuế bằng cách cộng thuế vào giá vốn hàng hóa, dịch vụ nên đƣợc gọi là thuế gián thu. Thuế gián thu đảm bảo cho mọi ngƣời có thể tự do lựa chọn hàng hóa, quyết định tiêu dùng để chịu thuế cao hay thấp tùy theo sự lựa chọn của mình. Nó tránh đƣợc quan hệ trực tiếp giữa ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế với cơ quan thuế nên dễ thu hơn so với thuế trực thu. - Thuế gián thu dễ điều chỉnh tăng thuế hơn vì những ngƣời chịu thuế thƣờng không cảm nhận đƣợc ngay và đầy đủ gánh nặng của loại thuế này, do vậy phản ứng chống thuế không gay gắt nhƣ thuế trực thu.
- Bên cạnh đó thuế gián thu còn là công cụ điều tiết bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nƣớc hƣớng dẫn tiêu dùng và điều tiết những ngƣời có nhiều tiền. Tuy nhiên, bên cạnh một số ƣu đểm trên, thuế gián thu cũng bộc lộ một số tồn tại nhƣ 8 mang tính lũy thoái, không đảm bảo sự công bằng trong việc động viên thu thuế. Mặc dù ngƣời ta cũng đã hạn chế tính lũy thoái bằng cách định ra thuế suất thấp hơn đối với hàng hóa dịch vụ thiết yếu, nhƣng dù sao nó cũng ảnh hƣởng rất khác nhau tới ngƣời giàu, ngƣời nghèo. Nếu cùng tiêu dùng một loại sản phẩm hàng hóa nhƣ nhau thì ngƣời giàu, ngƣời nghèo đều phải nộp một khoản thuế nhƣ nhau, điều này chứng tỏ sự không công bằng trong chính sách thuế.
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng,… 1. Phân loại theo đối tượng đánh thuế gồm các loại thuế sau Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhƣ Thuế giá trị gia tăng (GTGT) Thuế đánh vào sản phẩm, hàng hóa nhƣ thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế đánh vào thu nhập nhƣ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân) Thuế đánh vào tài sản nhƣ thuế nhà đất Thuế đánh vào khai thác, sử dụng một số tài sản quốc gia nhƣ thuế tài nguyên, thuế sử dụng vốn NSNN. Khái niệm về thuế TNDN 1.