CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM 1. Những nội dung cơ bản về thuế tại Việt Nam 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế [5][9][13] Thuế ra đời là mang tính tất yếu gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Mỗi nhà nước muốn tồn tại và phát triển được thì phải có một nguồn vật chất nhất định để thực hiện các chức năng của nhà nước.
Nguồn vật chất đó có thể được hình thành từ nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu vẫn từ hoạt động thu thuế. Tuy vậy, cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế. Theo tác giả, “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của nhà nước”.
Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước”. Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện 5 các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.
Và theo từ điển Tiếng Việt : Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định. Như vậy, có rất nhiều khái niệm về thuế. Nhưng tựu trung lại thuế có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, trong xã hội hiện đại thuế là khoản đóng góp bằng tiền. Về nguyên tắc, thuế là một khoản đóng góp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây.
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Thứ hai, thuế là khoản đóng góp bắt buộc nộp vào Ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua con đường quyền lực chính trị. Đây là điểm khác biệt giữa thuế và các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện khác. Tính bắt buộc của Thuế thể hiện ở chỗ đối với người nộp thuế bắt buộc phải tuân thủ các quy định pháp luật về kê khai, nộp thuế.
Đối tượng nộp thuế không thể tự mình ấn định hay thoả thuận mức thuế mà phải chấp thuận mức thuế và thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Còn đối với cơ quan thu thuế thì tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, cơ quan thu thuế buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức, cá nhân mà không được có sự ưu tiên với bất kì người nộp thuế nào. Thứ ba, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. 6 Khác với các khoản phí, lệ phí chỉ phải nộp khi đối tượng nộp nhận được một lợi ích trực tiếp từ Nhà nước thì thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế.
Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Người nộp thuế chỉ nhận được những lợi ích không thể xác định được dưới dạng vật chất như các dịch vụ công cộng, ổn định xã hội, sự phát triển kinh tế. Thứ tư, Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nước, thuế không có đối khoản cụ thể.
Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Chức năng của thuế Sự hình thành và phát triển của thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, nhằm mục đích ban đầu là huy động nguồn vật chất cho ngân sách nhà nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, Thuế có những chức năng chính như sau: 1. Chức năng huy động nguồn tài chính cho Nhà nước Chức năng huy động nguồn tài chính cho nhà nước là chức năng cơ bản của Thuế.
Cho đến nay, Thuế vẫn là một nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất của Ngân sách nhà nước. Nhờ chức năng này quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Chức năng phân phối thu nhập lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng, thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối thu nhập lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng 7 chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường.
Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị coi là tùy tiện. Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường Chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của thuế được thực hiện thông qua việc nhà nước sẽ xây dựng và ban hành chính sách thuế trong đó quy định các loại thuế trực thu, gián thu; Đối tượng nộp thuế, các mức thuế phải nộp tùy theo từng đối tượng. Sử dụng linh hoạt các chính sách về thuế như thuế xuất nhập khẩu, ưu đãi, miễn giảm thuế để tác động đến nền kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đó, nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội.
Như vậy, bằng cách các chính sách thuế, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện. Quy định hiện hành về quản lý thuế tại Việt Nam 1. Tổ chức bộ máy quản lý thuế Việt Nam Cũng như các hệ thống Thuế khác trên thế giới, Thuế Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các hình thái nhà nước khác nhau. Sau cách mạng tháng 8 thắng lợi, nhu cầu chi tiêu cho công tác an ninh-quốc phòng và bảo vệ đất nước trên nhiều mặt ngày càng lớn, các chính sách thuế cũng bắt đầu được hình thành.
Tuy nhiên, phải đến nay 1990 với sự ra đời của Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nước Việt Nam được chính thức thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành Thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng cấp; Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước có tư 8 cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước. CHÍNH PHỦ Bộ Tài chính UBND tỉnh, TP trực thuộc TW Tổng cục Thuế Cục thuế tỉnh, TP UBND quận, trực thuộc TW huyện Hình 1. Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý thuếChi địathuế nộicục hiện hành quận, huyện Hình 1.
Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý thuế nội địa hiện hành Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa được đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế. Trong quá trình thực thi, cùng với quá trình cải cách hành chính nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục thuế cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển, yêu cầu cải cách hành chính, yêu cầu của công tác quản lý thuế và yêu cầu của hội nhập. Một số nội dung chính về quản lý thuế tại Việt Nam hiện nay Quản lý thuế là quá trình hoạch định kế hoạch thuế cũng như chương trình mục tiêu, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu đề ra, phát hiện những sai sót và gian lận để uốn nắn, chỉnh sửa trong công tác quản lý ở những kỳ tiếp theo.