CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU Các khái niệm cơ bản về hoạt động gia công xuất khẩu 1. Một số khái niệm liên quan tới hoạt động gia công xuất khẩu Gia công quốc tế: Gia công là một hình thức kinh doanh đã có từ lâu đời và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tại những nước đang phát triển với dân số đông, lượng lao động dồi dào nhưng nền công nghiệp chưa phát triển. Khi hoạt động gia công vượt khỏi phạm vi quốc gia thì được gọi là gia công quốc tế (GCQT). GCQT có thể được quan niệm theo nhiều cách khác nhau và sau đây là một số khái niệm về hoạt động GCQT: - Theo Luật Thương mại Việt Nam (2005) “Gia công (GC) thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận GC sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt GC để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt GC để hưởng thù lao”[1, Tr.
Vậy GC là việc bỏ sức lao động để làm ra một sản phẩm mới hay thực hiện một số công đoạn trong quá trình sản xuất để chế tạo ra một sản phẩm nào đó. - Gia công quốc tế là hoạt động kinh doanh thương mại, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) [5, Tr. - Gia công hàng xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó, người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước.
Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho 6 người đặt gia công để nhận tiền công [7, Tr. Võ Thanh Thu (2006), trang 200) Hình 1.1 Quá trình gia công sản phẩm Hàng hóa gia công: Theo nghị định 69/2018/NĐ-CP (2018) của Chính phủ thì: - Thương nhân Việt Nam được nhận gia công hàng hóa hợp pháp cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. - Đối với hàng hóa thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện, chỉ các thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định về sản xuất, kinh doanh mặt hàng đó mới được gia công xuất khẩu cho nước ngoài.
- Đối với các mặt hàng nhập khẩu theo hình thức chỉ định thương nhân thuộc thẩm quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc gia công hàng hóa thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng gia công cho thương nhân nước ngoài sau khi được Bộ Công Thương cấp Giấy phép. “Hàng hóa gia công” là sản phẩm hoàn chỉnh của một quy trình sản xuất, chế biến và đảm bảo được yêu cầu của bên đặt gia công theo thỏa thuận trong hợp đồng gia công.[2] Phân biệt giữa Sản xuất xuất khẩu (SXXK) và Gia công xuất khẩu (GCXK) 7 SXXK là hình thức nhập nguyên liệu về để sản xuất xuất khẩu trong đó bên bán nguyên liệu khác với bên mua sản phẩm tức là có hai hợp đồng là hợp đồng nhập nguyên liệu và hợp đồng xuất sản phẩm. Ngược lại GCXK nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm sang cho cùng một đối tác và phụ thuộc họ về cả thiết kế lẫn nguyên liệu, được bao tiêu sản phẩm.
Cả hai hình thức giống nhau ở chỗ đều là quá trình xuất khẩu lao động tại chỗ và đều có quá trình nhập và xuất. Tuy nhiên nhà SXXK có quyền tự chủ hơn còn bên GC phải phụ thuộc vào bên giao gia công. Các hình thức gia công xuất khẩu Theo PGS. Nguyễn Thái Sơn (2014), các hình thức gia công quốc tế được chia theo các tiêu chí như sau: Theo quyền sở hữu nguyên liệu: - Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công.
Theo đó, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công. - Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này, quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên gia công sang bên đặt gia công. Giá gia công: - Hợp đồng thực chi thực thanh (Cost plus Contract): Bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng thêm một khoản thù lao gia công.
- Hợp đồng khoán: Hai bên thỏa thuận một mức giá định mức (Target price) cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu thì hai bên vẫn thanh toán với nhau theo khoản định mức đó. Theo số bên tham gia gia công: 8 - Gia công hai bên: Trong đó, chỉ có một bên đặt gia công và một bên nhận gia công. - Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp: Trong đó, bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tác gia công của đơn vị sau và bên đặt gia công có thể chỉ có một và cũng có thể nhiều hơn một.
Võ Thanh Thu (2006), trong thực tế có 3 loại hình thức gia công: - Hình thức nhận nguyên liệu giao thành phẩm: Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công. - Hình thức mua đứt bán đoạn: dựa trên hợp đồng mua bán dài hạn với nước ngoài. Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm.
Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên vật liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. - Hình thức kết hợp: trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên phụ liệu. Đây là phương thức phát triển cao nhất của hoạt động gia công xuất khẩu được áp dụng khi trình độ kỹ thuật, thiết kế mẫu mã của ta đã phát triển cao. Trong phương thức này, bên nhận gia công hầu như chủ động hoàn toàn trong quá trình gia công sản phẩm, phát huy được lợi thế về nhân công cũng như công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu trong nước.
Phương thức này là tiền đề cho công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu phát triển. Quan hệ giữa người đặt gia công và người thực hiện gia công đặt trên cơ sở Hợp đồng gia công (HĐGC). Đặc điểm của hoạt động gia công xuất khẩu Theo PGS. Nguyễn Thái Sơn (2014), hoạt động gia công xuất khẩu có những đặc điểm sau: Trong GCQT hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
Quyền sở hữu hàng hóa không thay đổi từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Mối quan hệ giữa bên đặt gia công với bên nhận gia công được xác định trong HĐGC. Trong HĐGC người ta quy định cụ thể các điều kiện thương mại như về thành phẩm, nguyên liệu, giá cả gia công, về nghiệm thu, thanh toán, điều kiện giao hàng. Trong HĐGC, bên đặt gia công giao toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu, vật tư gia công theo thỏa thuận tại HĐGC và nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công; máy móc thiết bị cho bên nhận gia công thuê hoặc mượn; nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý HĐGC, trừ trường hợp được phép xuất khẩu tại chỗ, tiêu hủy, biếu, tặng theo quy định.
Và được cử chuyên gia đến nước của bên nhận gia công để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm gia công, chịu trách nhiệm về hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, bên đặt gia công còn được phép xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công; máy móc thiết bị cho thuê hoặc cho mượn; nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa,. phù hợp với các quy định hiện hành về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa. Bên nhận gia công chịu mọi chi phí và rủi ro của quá trình sản xuất gia công và sẽ được nhận tiền thanh toán của bên đặt gia công bằng sản phẩm gia công.
Và được cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên phụ liệu, vật tư để gia công theo thỏa thuận trong HĐGC. Ngoài ra còn được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu, vật tư tạm nhập khẩu theo định mức để thực hiện HĐGC, được miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm gia công, trừ trường hợp nguyên liệu cung ứng trong nước nếu chịu thuế xuất 10 khẩu phải nộp thuế xuất khẩu.[3] * Đặc thù của hoạt động gia công xuất khẩu tàu biển so với các hợp đồng gia công lĩnh vực khác là : Mặt hàng của hợp đồng GC XK tàu biển rất đặc thù và khác với các sản phẩm gia công thông thường khác. Đó là một con tàu biển có kích thước, tải trọng lớn có giá trị kinh tế cao, trên tàu tích hợp nhiều thiết bị phức tạp hiện đại, tự động hóa cao có tính năng chiến- kỹ thuật tiên tiến, tiện nghi cho người sử dụng ngang tầm thế giới. Nguồn thu ngoại tệ từ HĐGCXK đem lại rất lớn, với Công ty 189 hợp đồng GC XK lớn nhất là: 5.
Thủ tục nghiệm thu bàn giao rất chặt chẽ, nghiêm túc và cẩn thận trong mọi công đoạn đóng tàu. Với một số nhà máy đóng tàu trong nước, do không quan tâm đến tính đặc thù của sản phẩm nên thời gian giao hàng kéo dài dẫn đến một số sản phẩm không giao được cho khách hàng nên bị phạt như Nhà máy đóng tàu Z173, Công ty đóng tàu Bến Kiền, Công ty đóng tàu Phà Rừng. Tuy nhiên thời gian sản xuất kéo dài có con tàu đến 2,5 năm do đó dẫn đến việc thu hồi số tiền còn lại bị kéo dài theo.