phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của Biện pháp dạy học tập viết cho học sinh lớp 2 thông qua bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Chƣơng 2: Dạy học tập viết cho học sinh lớp 2 thông qua bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Việc rèn chữ viết cho HS Tiểu học không còn là đề tài mới mẻ.
Nó đã đƣợc sự quan tâm của nhiều thầy cô và bậc phụ huynh. Do đó, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào vấn đề này và viết nên những công trình nhƣ các tác giả Trƣơng Vinh Ký (1887), Đỗ Thuận (1909), Lê Thƣớc (1915), Nguyễn Văn Vĩnh (1927)…( theo tƣ liệu “ vấn đề dạy viết trong các hệ thống dạy học vần” – Chữ viết và dạy chữ viết ở tiểu học của Lê A) chú trọng tới việc viết chữ theo lối chữ in viết thƣờng và viết hoa Đổi mới phƣơng pháp dạy học ở tiểu học đang trở thành vấn đề nóng đƣợc xã hội quan tâm sâu sắc, đặc biệt là những ngƣời cùng làm trong công tác giáo dục. Đây là một trong những nhân tố cơ bản góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học hỏi riêng. Từng bƣớc đƣa giáo dục nƣớc ta theo kịp trình độ giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Cùng với sự đổi mới giáo dục phổ thông, giáo dục tiểu học đang ngày càng đổi mới cả về nội dung và phƣơng pháp dạy học mà trong đó có sử dụng các phƣơng pháp dạy học không truyền thống. Các nghiên cứu về dạy học Tập viết cho học sinh Tiểu học thì chƣa đƣợc đề cập một cách có hệ thống. Các nghiên cứu đã quan tâm đến việc tìm kiếm các biện dạy học Tập viết gắn kiến thức tiểu học với thực tiễn cuộc sống, trực quan hóa các nội dung tiếng Việt. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thì chƣa đƣợc đề cập một cách có hệ thống.
Ngày 14/06/2004 mẫu chữ viết trong trƣờng Tiểu học đã đƣợc ban hành kèm theo Quyết định số 31/2002/QĐ - BGD & ĐT của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Số bài và thời lƣợng học cũng nhƣ nội dung bài học rất phù hợp với từng lứa tuổi. Tuy nhiên thực tế giảng dạy cho thấy học sinh học môn Tập viết để viết đẹp là rất khó, chữ hoa của các em chỉ dùng lại ở mức độ gần giống với hình dáng theo mẫu chữ quy định, một số em còn thao tác ngƣợc với quy trình viết hoặc nhấc bút tùy tiện. Hiện nay việc dạy học Tập viết đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là trong giai đoạn nƣớc ta đang từng bƣớc cải cách giáo dục.
Vậy làm sao 8 để học sinh có thể hoàn thành tốt phân môn Tập viết, đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 thì điều đó lại càng khó khăn hơn buộc chúng ta phải nghiên cứu tìm tòi để có những biện pháp phù hợp với từng đối tƣợng học sinh của mình. Thông qua bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống chúng ta hãy cùng nghiên cứu để tìm ra những biện pháp dạy học Tập viết phù hợp với học sinh lớp 2 giúp các em đạt đƣợc kết quả tốt nhất đối với phân môn này. Lịch sử hình thành chữ viết Chữ Hán vào Việt Nam theo con đƣờng giao lƣu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỉ thứ nhất trƣớc công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lƣu giữ đƣợc một số hiện vật nhƣ đỉnh cổ có khắc chữ tƣợng hình (chữ Hán cổ).
Điều này đã một phần chứng minh đƣợc rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phƣơng tiện ghi chép và truyền thông trong ngƣời Việt kể từ những thế kỉ đầu công nguyên trở đi. Đến thế kỉ VII – XI chữ Hán và tiếng Hán ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kì này chữ Hán đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp, giao lƣu kinh tế thƣơng mại với Trung Quốc. Đó là do Việt Nam bị ách đô hộ của triều đình phong kiến phƣơng Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.
Qua đó chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hƣởng to lớn nhƣ thế nào đối với nền văn hóa của ngƣời Việt Nam xƣa. Từ sau thế kỉ X, tuy Việt Nam giành đƣợc độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của triều đình phong kiến phƣơng Bắc, nhƣng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phƣơng tiện quan trọng để phát triển văn hóa Việt Nam. Trong quá trình phát triển đó đến đời Quang Trung, ngƣời Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm (Nôm theo âm Việt cổ có nghĩa là Nam, âm này vẫn còn lƣu giữ cho đến ngày nay trong một số thổ âm nhƣ ở Quảng Nam). Tên gọi này nhằm để đối lập với chữ của ngƣời phƣơng Bắc.
Sự ra đời của chữ Nôm đã đóng vai trò to lớn trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt. Khi thực dân Pháp thiết lập nền đô hộ ở nƣớc ta, chữ Nôm đi vào thời kì suy tàn và thay vào đó là sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ không phải do ngƣời Việt sáng tạo ra mà do tập 9 thể các nhà truyền giáo ngƣời châu Âu sáng tạo ra. Theo Đoàn Thiện Thuật trong “Ngữ âm tiếng Việt”, lúc đầu các nhà truyền giáo phƣơng Tây theo thói quen đã dùng chữ viết quen thuộc của họ để ghi chép và học tiếng Việt vì mục đích truyền giáo chứ không phải vì lợi ích và sự phát triển của dân tộc Việt.
Vì tính chất tự phát ấy nên cách ghi của các giáo sĩ cũng không hoàn toàn thống nhất với nhau. Trong tập thể các nhà truyền giáo ấy, công lao đầu tiên phải nhắc đến các giáo sĩ ngƣời Bồ Đào Nha mà ngƣời tiên phong có lẽ là Cha Francisco de Pina (ông sống và truyền giáo ở Việt Nam từ năm 1617 đến khi mất năm 1625). Pina không để lại một công trình nghiên cứu cụ thể nào mà chủ yếu chỉ đƣợc nhắc đến trong các công trình của các giáo sĩ đếnsau nhƣ trong công trình của các giáo sĩ ngƣời Ý, F. Bori (1631) hay trong công trình của giáo sĩ ngƣời Pháp Alexandre de Rhodes với tƣ tƣởng ông là một ngƣời cha nhiệt huyết và khá thông thạo tiếng Việt.
Tƣ tƣởng và nhiệt huyết của Pina đƣợc rất nhiều giáo sĩ thời bấy giờ ủng hộ. Họ bắt tay vào việc ghi chép, sƣu tầm và nghiên cứu tiếng Việt. Công việc nghiên cứu của họ bƣớc đầu có phần tản mạn. Mãi đến khi Gaspar de Amral và Antonio de Barbosa- hai giáo sĩ ngƣời Bồ Đào Nha đến Việt Nam và bắt tay soạn từ điển Việt- Bồ và Bồ- Việt (khoảng những năm 1646- 1647) thì chúng ta mới thực sự có những công trình nghiên cứu bƣớc đầu.
Công trình nghiên cứu có giá trị và đƣợc nhiều ngƣời nhắc đến là từ điển Việt- Bồ- La của giáo sĩ ngƣời Pháp Alexandre de Rhodes (xuất bản tại Roma năm 1651). Tiếp tục là công trình viết tay của Pigneau de Behayne, từ điển Việt- La (1772) ở đó chữ Quốc ngữ phần nào đã đƣợc hoàn thiện. Kế thừa công trình của Behayne, một giám mục ngƣời Pháp khác có tên là Taberd soạn từ điển song ngữ Việt- Latinh có tên Việt Nam dƣơng hiệp tự vị (1838) trong đó hình thức chữ viết gần giống nhƣ chữ Việt của chúng ta ngày nay. Chữ Quốc ngữ ở thời buổi đầu chƣa phản ánh một cách khoa học cơ cấu ngữ âm tiếng Việt, còn chịu nhiều ảnh hƣởng của cách ghi âm theo tiếng nƣớc ngoài.
Tuy nhiên, nhờ có chữ Quốc ngữ của thời buổi đó, chúng ta cũng đã thấy 10 đƣợc một số nét cổ xƣa của tiếng Việt đƣơng thời. Và dƣới đây là một đoạn văn chữ Quốc ngữ hồi thế kỉ XVII trích trong cuốn: “Phép giảng tám ngày” của A.đơRốt: “Ngày thứ nhứt (nhất): Ta cần cùn (cùng) đức chúa blời (trời) giúp sức cho ta biết tỏ tuầng (tỏ tƣờng) đạo chúa là nhuần nào…” Trải qua bao công sức của nhiều thế hệ ngƣời Việt, qua nhiều giai đoạn cách tân hợp lí hóa lối ghi tự mẫu Latinh của các cha cố phƣơng Tây, chữ Quốc ngữ đã tỏ rõ sức mạnh thần kì của nó khi biểu thị cách phát âm đa cung bậc của tiếng Việt (có 6 thanh) trình bày đƣợc tƣ tƣởng cùng bộc bạch mọi tâm trạng cảm xúc của ngƣời Việt Nam. Haudricout đã chứng minh rằng: “Tiếng Việt đã trải qua một quá trình phát triển từ không có thanh điệu dẫn tới có một hệ thống thanh điệu nhƣ hiện nay”. Chữ Quốc ngữ là chữ đơn giản về hình thể kết cấu, tiện lợi về mặt hành chức, sử dụng các chữ cái Latinh hầu nhƣ đã thông dụng trên toàn thế giới.
Ở chữ Quốc ngữ, giữa chữ và âm, giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ khá cao. Chữ Quốc ngữ đƣợc phổ biến vào nửa cuối thế kỉ XIX, mà mốc quan trọng là ngày 30 tháng 01 năm 1882, thống đốc Nam kỳ LeMyre de Vilers ra nghị định công nhận chữ Quốc ngữ và buộc dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán và chữ Nôm. Nhƣ vậy, từ khi hình thành vào những năm đầu thế kỉ thứ XVII đến khi đƣợc công nhận vào năm 1882, quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ trải qua một thời gian dài với gần hai thế kỉ. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, chữ Quốc ngữ đã chứa trong mình nó những ƣu điểm và hạn chế nhất định.
Đặc điểm cơ bản của chữ viết tiếng Việt hiện nay Khái niệm chữ viết: Chữ viết là một hệ thống kí hiệu bằng đƣờng nét đƣợc sử dụng để ghi lại ngôn ngữ âm thanh theo dạng văn bản. Với sự ra đời của chữ viết, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngƣời đƣợc chuyển từ dạng âm thanh- thính giác sang dạng đƣờng nét- thị giác. Do đó nó trở nên chính xác, chuẩn mực hơn, có thể tiến hành trong một thời gian lâu bền, trong một không gian rộng lớn. 11 Hệ thống chữ viết chỉ chung hệ thống kí hiệu dùng để ghi lại ngôn ngữ.
Nếu ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu thì chữ viết là hệ thống kí hiệu của kí hiệu. Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhƣng không thể đồng nhất ngôn ngữ và chữ viết. Đặc điểm của chữ viết tiếng Việt Chữ viết tiếng Việt hiện nay đang đƣợc sử dụng là chữ Quốc ngữ.