Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Hoạt động áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS nói chung hay cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng luôn là một hoạt động cốt lõi trong hoạt động THADS. Việc áp dụng cưỡng chế không diễn ra ở hầu hết các vụ việc THA nhưng lại có ý rất quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chịu ảnh hưởng của rất lớn bởi đặc trưng của địa bàn tổ chức cưỡng chế như điều kiện địa lý, kinh tế xã hội.
Từ loại vụ việc đến số lượng vụ việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS; các loại biện pháp cưỡng chế được áp dụng, cho đến tính chất phức tạp, quy mô của mỗi vụ việc cưỡng chế. Với một địa bàn như thành phố Hà Nội thì ảnh hưởng này rất rõ nét. Thành phố Hà Nội là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Riêng Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn được xếp vào đô thị loại đặc biệt.
Sau khi thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29/5/2008, kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XII về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội có hiệu lực từ ngày 01/8/2008, thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên là 334.470,02 ha và dân số hiện tại là 6.940 người, đứng thứ hai về dân số và đứng đầu cả nước về diện tích. Mật độ dân số Hà Nội hiện nay cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội và ngoại thành. Trên toàn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 người/km2 nhưng tại quận Đống Đa mật độ lên tới 35.341 người/km2. Trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km2.
Theo số liệu điều tra dân số ngày 01/4/2009, toàn thành phố Hà Nội có 2.087 cư dân thành thị chiếm 41,2% và 3.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%. Đặc biệt, sau khi mở rộng địa giới hành chính, cơ cấu dân số của thành phố Hà Nội còn có người dân tộc thiếu số ở một số huyện như: Mỹ Đức, Ba Vì. Về tổ chức hành chính, thành phố Hà Nội hiện có 29 đơn vị hành chính cấp huyện - gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã - và 577 đơn vị hành chính cấp xã - gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn. Về kinh tế, thành phố Hà Nội hiện giữ vị trí quan trọng thứ hai trong nền kinh tế Việt Nam.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991-1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996-2000 là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam. Theo số liệu năm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng. Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu.
Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án. Thành phố Hà Nội cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp. Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố. Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội.
Do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của thành phố Hà Nội kéo theo phát sinh nhiều tranh chấp trong quan hệ dân sự, kinh tế cho đến sự gia 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng của các loại tội phạm hình sự. Bởi vậy, số lượng bản án, quyết định được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ban hành là rất lớn. Mặt khác, giá trị phải thi hành của những bản án, quyết định này rất dạng từ vài trăm ngàn cho đến hàng tỷ đồng. Không chỉ dừng ở giá trị, tính phức tạp còn bao gồm cả yếu tố nước ngoài, tôn giáo.
Với vị trí là thủ đô, trung tâm chính trị của cả nước, thành phố Hà Nội là nơi có trụ sở của tất cả các cơ quan nhà nước trung ương, cơ quan của Đảng và các tổ chức xã hội chính trị khác. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến sự đa dạng và phức tạp trong các quan hệ phối hợp giữa các cơ quan cũng như các quan hệ xã hội khác ảnh hưởng đến hoạt động cưỡng chế THADS. Với những đặc điểm trên tất yếu dẫn đến tính đa dạng và phức tạp trong hoạt động THADS và đặc biệt trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền của thành phố Hà Nội. KHÁI QUÁT BỘ MÁY VÀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.
Tổ chức bộ máy thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội là địa bàn rộng lớn với sự khác biệt rõ nét giữa các vùng miền. Mặt khác, thành phố Hà Nội là thủ đô, là trung tâm chính trị, văn hóa và là địa bàn có hoạt động kinh tế lớn thứ hai của cả nước. Bởi vậy, cơ cấu tổ chức và số lượng cán bộ, công chức cũng rất lớn so với các đơn vị THADS địa phương khác trên toàn quốc. Theo Luật THADS và các quy định dưới luật, bộ máy tổ chức THADS thành phố Hà Nội có một đơn vị THADS cấp tỉnh là Cục THADS thành phố Hà Nội (trong đó có 05 phòng chuyên môn là: Phòng Nghiệp vụ và Tổ chức THA, Phòng Kiểm tra và Giải quyết khiếu nại tố cáo, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch Tài chính và Văn phòng) và 29 đơn vị cấp quận huyện.
29 đơn vị cấp huyện bao gồm 10 Chi cục THADS quận, 18 Chi cục THADS huyện và 01 Chi cục THADS thị xã. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái quát kết quả hoạt động thi hành án dân sự Cơ quan THADS thành phố Hà Nội có chức năng chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật THADS. Ngoài ra, Cục THADS thành phố Hà Nội còn thực hiện một phần công tác quản lý ngành THADS ở địa phương theo phân cấp của Bộ Tư pháp.
Kết quả công tác THADS của toàn thành phố Hà Nội sau khi Luật THADS có hiệu lực như sau: Bảng 1.1: Thống kê kết quả công tác THADS của toàn thành phố Hà Nội năm 2009, 2010, 2011 Chỉ tiêu Số việc Số giá trị (1000đ) Năm Phải thi hành Thi hành xong Phải thi hành Thi hành xong 2009 37. Trong năm 2010, trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, "đã phải áp dụng cưỡng chế đối với 240 việc trong tổng số 34.320 vụ việc phải thi hành, chiếm tỷ lệ 0,7%" [34]. Để đánh giá được khối lượng công việc của các cơ quan THADS thành phố Hà Nội, ta sẽ thực hiện so sánh với khối lượng công việc của ngành THADS tỉnh Hải Dương và thành phố Hà Nội trong năm công tác 2011. Tổng số việc phải thi hành: - "Tỉnh Hải Dương: 5.917 việc" [39] - "Thành phố Hà Nội: 32.332 việc" [36] - Số lượng việc thi hành gấp 5,4 lần.
Tổng số tiền phải thi hành: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - "Tỉnh Hải Dương: 318.000đ" [39] - "Thành phố Hà Nội: 2.000đ" [36] - Số lượng tiền phải thi hành gấp 6,6 lần. Thực hiện so sánh khối lượng công việc trong năm công tác 2011 của Chi cục THADS thành phố Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc và Chi cục THADS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội như sau: Tổng số việc phải thi hành: - "Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên: 1.012 việc" [20] - "Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình: 2.295 việc" [36] - Tỷ lệ tiền phải thi hành của đơn vị Ba Đình/đơn vị Vĩnh Yên: 2,67 lần. Tổng số tiền phải thi hành: - "Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Vĩnh Yên: 18.000đ" [20] - "Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình: 51.000đ" [36] - Tỷ lệ tiền phải thi hành của Ba Đình/ Vĩnh Yên: gấp 2,7 lần. Đối với các đơn vị cấp quận, huyện của thành phố Hà Nội, do tính đặc thù về địa lý và sự phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều nên có sự chênh lệch rất lớn về số việc và giá trị phải thi hành giữa các đơn vị.2: So sánh số việc và giá trị phải thi hành giữa hai của đơn vị thi hành án cấp quận, huyện trong năm 2009, 2010 Chi cục Năm 2009 Năm 2010 STT THADS Việc Giá trị (1000đ) Việc Giá trị (1000đ) 1 Q.879 So sánh A/B 14 136 12 127 Nguồn: [34], [35].
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua bảng trên, có thể thấy rõ sự chênh lệch rất lớn giữa hai đơn vị này, số việc lớn trên 10 lần còn về giá trị thì lớn hơn 100 lần. KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong hoạt động THADS có thể được hiểu là biện pháp dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải THA thực hiện nghĩa vụ trả tiền (nghĩa vụ thanh toán) của họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện THA. Nghĩa vụ trả tiền hay còn gọi là nghĩa vụ thanh toán là loại nghĩa vụ phổ biến trong các quan hệ dân sự, nó phát sinh từ quan hệ hợp đồng, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cho đến việc thực hiện các nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước.
Chính vì vậy, biện pháp cưỡng chế THA để thi hành nghĩa vụ trả tiền chiếm số lượng lớn trong các biện pháp cưỡng chế THA bởi những tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trả tiền phát sinh rất phổ biến trong sinh hoạt thường ngày cũng như hoạt động kinh doanh.