Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI ĐANG BỊ TRUY NÃ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI ĐANG BỊ TRUY NÃ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Quan niệm về biện pháp ngăn chặn và biện pháp bắt người 1. Quan niệm về biện pháp ngăn chặn Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là quan điểm cơ bản của Đảng và nhà nước ta.
Tuy nhiên khi có hành vi đi ngược lại với lợi ích của xã hội, lợi ích của nhà nước, nhà nước ta cũng cho phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để hạn chế quyền và lợi ích của chủ thể thực hiện hành vi đó. Điều này hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà trái lại nó còn góp phần bảo vệ được lợi ích của cộng đồng, của xã hội, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước. Nhằm mục đích ngăn chặn và phòng ngừa việc không thực hiện các nghĩa vụ của những người tham gia TTHS, pháp luật cho phép Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng đối với những người đó các biện pháp cưỡng chế TTHS. Các biện pháp cưỡng chế TTHS có khác nhau về tính chất và chức năng.
Một số biện pháp cưỡng chế TTHS chỉ được áp dụng trong những trường hợp một người thực hiện những vi phạm pháp luật nhất định. Chẳng hạn trong khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể áp dụng biện pháp buộc những người vi phạm trật tự phiên tòa rời khỏi phòng xử án hoặc phạt tiền đối với họ. Biện pháp cưỡng chế này là những biện pháp trách nhiệm tố tụng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, BLTTHS của Nhà nước ta đã quy định hàng loạt các biện pháp cưỡng chế khác nhau nhằm những mục đích tố tụng nhất định.
"Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự bao gồm các biện pháp được luật tố tụng hình sự quy định, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố tụng nhất định" [42]. Căn cứ vào mục đích của chúng, có thể chia thành ba nhóm sau: - Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án như: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; - Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập và ghi nhận chứng cứ như: Khám xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể.; - Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho quá trình tiến hành tố tụng được diễn ra bình thường và thuận lợi như: Kê biên tài sản, áp giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử lý do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa [41]. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế nêu trên thì BPNC là một chế định pháp lý quan trọng. Toàn bộ quy phạm pháp luật xác định cơ sở, mục đích của các BPNC, các loại BPNC cụ thể, trình tự áp dụng, thay thế và hủy bỏ chúng cũng như những bảo đảm pháp chế trong việc áp dụng các biện pháp này hợp thành một chế định pháp luật TTHS - những BPNC.
Chức năng của chế định pháp luật này được thể hiện trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh khi cần thiết phải hạn chế tự do của bị can, bị cáo nhằm ngăn ngừa khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh việc điều tra, xét xử, cản trở việc xác định sự thật về vụ án hình sự của họ. Áp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng các BPNC không thể loại trừ hoàn toàn nhưng có thể hạn chế một cách có hiệu quả khả năng thực hiện các hành vi nói trên của bị can, bị cáo. BLTTHS dành một chương riêng trong phần Những quy định chung nói về BPNC, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của nhà nước ta đối với việc sử dụng các biện pháp này trong cuộc đấu tranh chống tội phạm. Nhìn lại công tác lập pháp trong mấy chục năm qua cho thấy, những quy định của pháp luật TTHS về các BPNC luôn có sự thay đổi, phát triển cùng với sự phát triển đi lên của nhà nước và xã hội Việt Nam.
Đó là một hiện tượng hợp quy luật. Trong lịch sử phát triển của luật TTHS Việt Nam, nội dung và các loại BPNC có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện. Vậy thế nào là BPNC trong TTHS? Trong pháp luật thực định chưa có một khái niệm pháp lý về BPNC rõ ràng. Cho nên trong các tài liệu, sách báo Việt Nam các học giả đã có những khái niệm khác nhau về các BPNC.
Theo Từ điển thuật ngữ pháp lý phổ thông của Nhà xuất bản "Sách pháp lý" Matxcơva năm 1973 thì: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự do Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Tòa án áp dụng đối với bị can (người bị tình nghi) nếu có đủ căn cứ cho rằng bị can trốn tránh việc điều tra, dự thẩm hoặc hoặc trốn tránh Tòa án, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án hay sẽ tiếp tục hoạt động phạm tội, cũng như để đảm bảo việc thi hành án [1]. Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Khoa Luật trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn cho rằng: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần bắt trong trường hợp khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn những người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [23]. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cuốn Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội thì: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [41]. Còn theo cuốn "Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự" thì BPNC là một loạt biện pháp do CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội [42].
Có thể thấy các khái niệm trên chỉ phản ánh được phần nào của BPNC. Nhằm xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh trong đó bao hàm những dấu hiệu đặc trưng như mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, căn cứ và mục đích áp dụng để từ đó hiểu và vận dụng đúng đắn trong thực tiễn. Vì vậy, có thể hiểu rằng: BPNC là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS do các chủ thể có thẩm quyền được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm ngăn chặn kịp thời những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. BPNC bao gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Tóm lại, các BPNC là những biện pháp được áp dụng để ngăn ngừa bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chúng không phải là những biện pháp trừng trị, trấn áp bị can, bị cáo hoặc được áp dụng để răn đe người khác, bởi vì chúng không phải là hình phạt. Về bản chất pháp lý, các BPNC trong luật TTHS có tính phòng ngừa, được áp dụng để chặn đứng hoặc ngăn ngừa hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật của bị can, bị cáo. Áp dụng đúng đắn và kịp thời các BPNC tạo điều kiện cho việc giải quyết đúng đắn và có kết quả các nhiệm vụ của TTHS.
Ý nghĩa trực tiếp của chúng là tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm rõ sự thật của vụ án hình sự, bảo đảm thực hiện nguyên tắc người có tội phải chịu trách nhiệm hình sự và ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội. Việc quy định những BPNC trong BLTTHS góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn và vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm việc thực hiện dân chủ, tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do của công dân được Hiến pháp ghi nhận, không để một công dân nào bị hạn chế các quyền công dân, bị bắt, bị giam, giữ một cách trái pháp luật. Quan niệm về biện pháp bắt người Biện pháp bắt người có một vị trí quan trọng trong số những BPNC mà BLTTHS quy định, bởi lẽ đây là BPNC có tính chất cưỡng chế rất nghiêm khắc, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định. Đây là cơ sở pháp lý để nhận thức quyền bất khả về thân thể của công dân có thể bị tác động trong những trường hợp cần thiết do yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm và trong khuôn khổ pháp luật quy định.
Bắt người trong TTHS là việc bắt người phạm tội theo các quy định của pháp luật TTHS. Bắt người trong trường hợp này do chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước nhằm đạt được mục đích tố tụng.