CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm chung về biện pháp bảo lĩnh trong tố tụng hình sự 1.1 Định nghĩa về biện pháp bảo lĩnh Biện pháp bảo lĩnh là một trong những chế định tiến bộ đã được ghi nhận rất sớm trong pháp luật TTHS của nước ta, chính thức được quy định trong BLTTHS 1988 (Điều 75), ngày càng hoàn thiện hơn trong BLTTHS 2003 (Điều 92) và hiện nay là BLTTHS 2015 (Điều 121). Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, biện pháp bảo lĩnh mới chỉ được hiểu đơn giản với tư cách là BPNC thay thế cho biện pháp tạm giam trong TTHS chứ chưa có bất kỳ khái niệm chính xác như thế nào là biện pháp bảo lĩnh hay bản chất pháp lý của biện pháp này lả gì. Khi tra cứu thuật ngữ bảo lĩnh tại các từ điển tiếng việt thì hầu hết đều cho ra kết quả tương đương nghĩa với từ “bảo lãnh”. Cụ thể, theo từ điển tiếng Việt phổ thông:“bảo lĩnh cũng như bảo lãnh là việc bảo đảm người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện”1, theo từ điển tiếng việt Soha “Bảo lãnh là việc bảo đảm cho (một cá nhân hoặc tổ chức) làm một việc hoặc hưởng một quyền lợi có gắn với nghĩa vụ, chịu trách nhiệm nếu (cá nhân hoặc tổ chức ấy) sau này không thực hiện nghĩa vụ”2 hay theo từ điển tiếng việt Lạc Việt “Bảo lãnh là việc bảo đảm người khác chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện; dùng uy tín để bảo đảm cho hành động của người khác”3.
Trong đời sống hằng ngày hai từ bảo lãnh và bảo lĩnh được dùng gần như là giống nhau. Tuy nhiên, theo quy định của luật “bảo lĩnh” và “bảo lãnh” lại là hai chế định hoàn toàn khác nhau và tách biệt ở hai ngành luật độc lập, sự khác nhau ở đây là về bản chất chứ không chỉ về cách phát âm. Nếu như bảo lãnh chỉ có trong quan hệ pháp luật dân sự thì bảo lĩnh chỉ có trong TTHS. Bảo lãnh, theo BLDS 2015 được hiểu là “biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Cụ thể hơn, theo quy định tại Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 thì “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn 1 Viện ngôn ngữ học (2009), từ điển Tiếng việt phổ thông, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr.vn/dict/vn_vn/B%E1%BA%A3o_l%C4%A9nh, truy cập ngày 03/03/2020.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/all/b%E1%BA%A3o+l%C4%A9nh.html , truy cập ngày 03/03/2020 2 thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng 4 nghĩa vụ”. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 361). Chế định bảo lãnh trong quan hệ pháp luật dân sự được quy định rất cụ thể về hình thức bảo lãnh (Điều 362), phạm vi bảo lãnh (Điều 363), thù lao (Điều 364), trường hợp nhiều người cùng bảo lãnh (Điều 365), quan hệ giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh (Điều 366), quyền yêu cầu của bên bảo lãnh (Điều 367), miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (Điều 368), xử lý tài sản của bên bảo lãnh (Điều 369), hủy bỏ việc bảo lãnh (Điều 370), chấm dứt việc bảo lãnh (Điều 371).
Đối với “bảo lĩnh” thì trong khoa học pháp lý hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cùng một khái niệm của chế định này, có thể kể đến như sau: Tác giả Nguyễn Ngọc Chí cho rằng:“Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được các cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT”5. Quan điểm này đã nêu được rõ đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh cũng như chủ thể nhận bảo lĩnh nhưng không thể hiện rõ bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng và cơ quan tố tụng cụ thể nào có thẩm quyền áp dụng BPNC này. Tác giả Nguyễn Mai Bộ cho rằng:“Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn do CQĐT, VKS hoặc tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo thể hiện ở việc cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận trách nhiệm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có 6 mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan THTT”. Khái niệm này đã nêu được cụ thể các cơ quan có thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, hình thức và mục đích áp dụng nhưng lại chưa đưa ra căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh.
Tác giả Trần Quang Tiệp nêu:“Bảo lĩnh là BPNC được các cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo có nhân thân, lai lịch rõ ràng, để thay thế biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT 4 Khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự 2015 5 Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.230 6 Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chặn, khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Tư pháp, tr. Khái niệm này của tác giả đã nêu lên được đối tượng bị áp dụng là bị can, bị cáo, khẳng định bản chất của bảo lĩnh là BPNC để thay thế biện pháp tạm giam và đưa ra được mục đích của việc áp dụng. Tuy nhiên, tương tự với quan điểm của TS. Nguyễn Ngọc Chí, TS.
Nguyễn Mai Bộ thì khái niệm này cũng chưa đề cập cụ thể rõ căn cứ và hình thức áp dụng biện pháp bảo lĩnh.TS Võ Khánh Vinh có quan điểm cho rằng:“Bảo lĩnh là BPNC được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo. Bảo lĩnh ít nghiêm khắc hơn tạm giữ, tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của 8 CQĐT, VKS hoặc Tòa án”. Điểm nổi bật của khái niệm này chính là việc bên cạnh việc đề cập được hầu hết các nội dung cần thiết như: chủ thể có thẩm quyền áp dụng, mục đích, đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh thì tác giả đã thể hiện được các yếu tố thuộc bản chất của BPNC như: là biện pháp thay thế tạm giam, có tính chất ít nghiêm khắc hơn tạm giữ, tạm giam và áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam nhưng cần phải ngăn ngừa. Tuy nhiên, khái niệm này lại có nhược điểm là chưa đề cập tới căn cứ áp dụng bảo lĩnh và các hình thức bảo lĩnh.
Tác giả Nguyễn Sơn Phước cho rằng: “Bảo lĩnh là một trong những BPNC được quy định trong luật TTHS do cơ quan có thẩm quyền áp dụng theo luật định, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, khi không cần thiết phải tạm giam, nhưng xét thấy cần ngăn chặn việc họ có thể cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đáp ứng được các điều kiện luật định, được người thân thích hoặc cơ quan, tổ chức mà bị can, bị cáo là thành viên đứng ra cam đoan không để cho bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, tòa án”9. Có thể thấy rằng, nếu so sánh với các khái niệm đã được đề cập ở trên thì quan điểm này của tác giả Nguyễn Sơn Phước đã thể hiện gần như là đầy đủ, chính xác các nội dung cần phải có về khái niệm bảo lĩnh và bản chất pháp lý của BPNC này. 7 Trần Quang Tiệp (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, Nguyễn Ngọc Anh chủ biên,, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.209 8 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 215 9 Nguyễn Sơn Phước (2018), Biện pháp bảo lĩnh: Nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Tp, Hồ Chí Minh, tr.
13 4 Đến BLTTHS 2015 thì biện pháp bảo lĩnh được hiểu như sau:“Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh” 10. Có thể thấy rằng, quy định này đã nêu được chủ thể có thẩm quyền áp dụng, đối tượng, căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh, tuy nhiên vẫn chưa thể hiện đầy đủ các nội dung quan trọng khác như: bản chất pháp lý, mục đích, hình thức áp dụng. Nhìn chung, các quan điểm được đề cập ở trên và quy định của pháp luật TTHS hiện hành về cơ bản đã đáp ứng được tinh thần của Hiến pháp 2013, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Qua việc phân tích và tổng hợp các khái niệm đó, tác giả đưa ra định nghĩa khoa học về biện pháp bảo lĩnh như sau: “Biện pháp bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Luật tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng xét thấy cần ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội.