Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Như chúng ta đã biết, theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì thủ tục thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các bước để đưa một bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành theo quy định của pháp luật. Quy trình, thủ tục về thi hành án dân sự được thực hiện từ khi cấp bản án, quyết định, tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án và tiến hành các tác nghiệp cụ thể cho đến khi chấm dứt việc thi hành án; quyền và nghĩa vụ của đương sự được thực hiện trên thực tế.
Trong quy trình thi hành án dân sự, tùy theo từng vụ việc cụ thể mà Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự có thể thực hiện các thủ tục cần thiết khác nhau. Pháp luật về thi hành án dân sự đã có những quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án trong các trường hợp người phải thi hành án chống đối, cản trở việc thi hành án. Theo đó, trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện, có dấu hiệu trốn tránh việc thi hành án thì người được thi hành án có quyền yêu cầu hoặc Chấp hành viên tự mình áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước là các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Luật Thi hành án dân sự đã dành hẳn Mục I Chương IV, bao gồm các điều: từ Điều 66 đến Điều 69 để quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án dân sự.
Đây là một chế định hoàn toàn mới trong pháp luật về thi hành án dân sự ở nước ta. Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản thì biện pháp được hiểu là "cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể" [34, tr. 64], còn khái niệm bảo đảm được hiểu là "làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết hoặc là sự bảo đảm thực hiện được hoặc giữ được" [34, tr. 38] và thi hành là "làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định" [34, tr.
Về mặt pháp lý, khái niệm "thi hành án" là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án được thực hiện. Nếu như kết quả của hoạt động xét xử là "đưa ra các phán quyết (bản án, quyết định) trên cơ sở áp dụng các điều luật cụ thể để xem xét các tình tiết đã xảy ra, thì kết quả của thi hành án là làm cho các phán quyết đó được thực hiện trong thực tế" [25, tr. Khái niệm thi hành án dân sự là "hoạt động do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo những thủ tục, trình tự nhất định nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án ra để thi hành" [25, tr. Tuy nhiên, cần hiểu rộng ra là không chỉ bản án, quyết định của Tòa án mà còn thi hành các quyết định của Trọng tài thương mại, của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh… Như vậy, "biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự" có thể hiểu là các cách thức làm cho việc thi hành án dân sự được thực hiện một cách chắc chắn và đầy đủ nhằm đảm bảo tính hiệu lực của bản án, quyết định được tổ chức thi hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo phân tích của Giáo trình Luật Thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được bảo đảm thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, nhằm ngăn ngừa việc người phải thi hành án tẩu tán, định đoạt tài sản để trốn tránh việc thi hành án và đồng thời tạo áp lực, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của họ. Trường hợp Chấp hành viên đã áp dụng biện pháp bảo đảm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thi hành án dân sự mà người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để buộc họ thi hành. Như vậy, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý mang tính quyền lực nhà nước, do đó, trong trường hợp cần thiết thì chỉ cần có căn cứ cho rằng tài sản mà người phải thi hành án hoặc người thứ ba đang quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của người phải thi hành án là cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp này. Sau khi đã áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án và có căn cứ xác định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phù hợp.
Từ sự phân tích trên, Giáo trình đã đi đến định nghĩa về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự: Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, định đoạt tài sản trốn tránh việc thi hành án và đôn đốc họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình do Chấp hành viên áp dụng trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự [27, tr 187]. Có thể nói, định nghĩa nêu trên chưa hoàn toàn đầy đủ, cụ thể, chưa phản ánh hết được các nội dung, mục đích và ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự. Bởivì, ngoài việc tác động đến tài sản của người phải thi hành án thì quyền tài sản của người phải thi hành án cũng được coi là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; khi được áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đặt tài sản của người phải thi hành án vào tình trạng bị cấm sử dụng, định đoạt mà chỉ là tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó. Mặt khác, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng một cách linh hoạt và trong nhiều trường hợp, được áp dụng sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế như: sau khi Chấp hành viên đã kê biên 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài sản của người phải thi hành án nhưng tài sản bị kê biên lại thuộc diện khó xử lý hoặc không thể xử lý được do không rõ nguồn gốc, do đang bị giải tỏa, di dời, do đang được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ khác một cách hợp pháp, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ cho chi phí cưỡng chế và thực hiện nghĩa vụ hoặc tài sản đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên đang có tranh chấp với người thứ ba,… Vì vậy, nếu Chấp hành viên phát hiện được các tài sản khác của người phải thi hành án thì có thể áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đối với tài sản này để thay thế cho tài sản đã bị kê biên.
Do đó, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cần được định nghĩa như sau: Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý được Chấp hành viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được xem như là bước đệm, cầu nối trung gian giữa giai đoạn người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình và giai đoạn Chấp hành viên tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự; trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì trên cơ sở biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã áp dụng, Chấp hành viên sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự tương ứng để xử lý tài sản của người phải thi hành án. Qua nghiên cứu cho thấy biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có các đặc điểm cơ bản như sau: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo thi hành án dân sự là tài sản, tài khoản Phần lớn các nghĩa vụ được tổ chức thi hành trong lĩnh vực thi hành án dân sự là nghĩa vụ về tài sản. Do đó, để việc thi hành án được thuận lợi, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng đối với đối tượng là các tài sản, tài khoản được cho là của người phải thi hành án.
Tài sản của người phải thi hành án có thể đang do người phải thi hành án hoặc do người khác chiếm giữ. Trên cơ sở kết quả xác minh hoặc thông tin do người được thi hành án cung cấp, Chấp hành viên có thể ra quyết định phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản để đảm bảo việc thi hành án.