đặt vấn đề liệu có thể cải thiện được xã hội tương lai nếu quy mô dân số càng ngày càng lớn, ông lập luận, dân số nếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 không được kiểm soát sẽ tăng theo cấp số nhân (2, 4, 8, 16.); còn lương thực thực phẩm, phương tiện sinh hoạt chỉ tăng theo cấp số cộng (1, 2, 3, 4. Trong một thế giới mà các nguồn lực để trồng lương thực là có hạn và khoa học kỹ thuật tiến bộ rất chậm, Malthus luận giải sản lượng lương thực sẽ nhanh chóng bị sức ép của gia tăng dân số làm mất đi tác dụng. Bữa ăn hàng ngày sẽ giảm xuống dưới mức chuẩn. Mức chết cao sẽ cản trở dân số gia tăng.
Mức sống chỉ được cải thiện trong một thời gian ngắn trước khi lại bước vào thời kỳ tăng dân số nhanh hơn. Sự cân bằng giữa dân số và tăng thu nhập là “bộ luật vĩ đại của tự nhiên”. Ủng hộ lập luận của Malthus, năm 1968, Ehrlich cho ra đời cuốn sách The Population Bomb (Quả bom dân số), ông cho rằng Trái đất chỉ có thể “gánh” tốt khoảng 1,5 tỉ người (một số tính toán gần đây cũng cho con số “lý tưởng” này) và cảnh báo nạn đói toàn cầu nếu dân số tiếp tục tăng. Về những đóng góp của Malthus, có thể nói ông là người có công đầu trong việc nêu lên và nghiên cứu vấn đề dân số, đặc biệt là lên tiếng báo động cho nhân loại về nguy cơ của sự tăng nhanh dân số.
Tuy nhiên, một mặt do những hạn chế về lịch sử và mặt khác, học thuyết này dựa trên giả định phát triển dân số là quy luật tự nhiên, vĩnh cửu nên ông đã đưa ra những giải pháp sai lệch để hạn chế nhịp độ tăng dân số. Lý thuyết “Dân số học lạc quan”: biến dộng dân số giúp tăng trưởng kinh tế Quan điểm của nhóm “Các nhà nghiên cứu theo thuyết dân số học lạc quan” cho rằng gia tăng dân số có thể là một quà tặng cho nền kinh tế. Theo Kuznets (1960) và Simon (1981), gia tăng dân số cũng giống như tạo vốn dự trữ con người. Với khả năng lợi dụng được sự sắp đặt của nền kinh tế, những xã hội có quy mô lớn hơn được xác định tốt hơn các cơ hội để phát triển, khai thác và phổ biến các nguồn tri thức không ngừng tăng lên mà họ có được.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Quy mô dân số gia tăng kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường mở rộng và do đó thúc đẩy sản xuất phát triển. Sản xuất với quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Mặt khác, dân số đông sẽ làm tăng kiến thức thông qua học hỏi và cạnh tranh, hơn thế nữa, sức ép của nhu cầu sẽ thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển. Tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp tăng nhanh và các nhà dân số học bi quan đã không tính đến điều này.
Họ đã có một cách nhìn nhận rộng hơn và khuyến nghị rất nhiều yếu tố bên ngoài là nguyên nhân dẫn đến gia tăng dân số. Lý thuyết “Dân số học trung tính”: biến dộng dân số không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhóm các nhà nghiên cứu khác luận giải, tăng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm của hàng loạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do nhân tố dân số. Kelley (2001) gợi ý những người theo thuyết Dân số học trung tính thực tế đã trở thành trường phái tư tưởng khá nổi bật trong số các nghiên cứu học thuật về tăng trưởng dân số; ông đưa ra ba lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu ảnh hưởng đến việc dấy lên thuyết dân số học trung tính trong những năm 1980: - Tài nguyên thiên nhiên: Người ta phát hiện ra cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không phải do chịu tác động mạnh mẽ của gia tăng dân số như các nhà dân số học bi quan vẫn nghĩ.
Công nghệ, sự bảo tồn và phân chia thị trường các nguồn lực có hiệu quả, tất cả những yếu tố này góp phần gìn giữ tài nguyên thiên nhiên và thu nhập bình quân đầu người là yếu tố chủ yếu quyết định cung - cầu những nguồn lực này. - Tiết kiệm/tích lũy: Gia tăng dân số làm giảm tích lũy dẫn đến gây ảnh hưởng đối với tăng trưởng kinh tế chưa được nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 - Đa dạng hóa nguồn lực: Các nhà dân số học bi quan cho rằng gia tăng dân số có thể dẫn đến việc phải dành nguồn lực cho nhiều nhu cầu đầu tư khác nhau, từ tạo dựng vốn sản xuất vật chất đến những lĩnh vực sản xuất kinh tế yếu kém, cũng như các chương trình phúc lợi xã hội và giáo dục. Song kết quả nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy thực tế điều này hầu như tác động không đáng kể.
Lý thuyết “Quá độ dân số” Quá độ dân số là sự chuyển dịch có tính chất lịch sử tỷ suất sinh và tỷ suất chết từ mức cao xuống mức thấp trong một dân số. Sự giảm mức độ chết thường đi trước sự giảm mức độ sinh, làm cho dân số tăng trưởng nhanh trong thời kỳ quá độ. Người đầu tiên đưa ra quan điểm này là nhà dân số học người Pháp A. Ladry cùng với việc sử dụng thuật ngữ “Cách mạng dân số” ra đời vào những năm 1909 - 1934.
Tư tưởng này được F. Notestein, nhà dân số học Hoa Kỳ, kế tục và trình bày cụ thể hơn vào năm 1945. Phân tích quá trình biến động dân số, các nhà nhân khẩu học phương Tây đưa ra lý thuyết quá độ dân số. Theo lý thuyết này, thời kỳ trước quá độ được đặc trưng bằng mức sinh cao không có sự kiểm soát và mức chết cao do thiên tai, đói khát, bệnh tật và chiến tranh.
Hình thức này tồn tại trong các xã hội truyền thống có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, ở đó khuyến khích mọi người có mức sinh cao và ý tưởng này càng được củng cố bằng những lợi ích kinh tế mà các gia đình đông con đưa lại. Thời kỳ quá độ hay thời kỳ chuyển tiếp xuất hiện khi mức chết giảm, sau đó mức sinh cũng giảm. Sau thời kỳ quá độ, tỷ suất chết và tỷ suất sinh trở lại tương đương nhau, nhưng ở mức thấp. Các giai đoạn của thời kỳ quá độ được chia thành: giai đoạn trước quá độ dân số, giai đoạn quá độ dân số và giai đoạn sau quá độ dân số.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Giai đoạn 1 - trước quá độ dân số: biểu thị mức chết bắt đầu giảm xuống (nhưng còn chậm), mức sinh vẫn còn cao và có nơi vẫn tiếp tục tăng. Trạng thái cân bằng dân số bị phá vỡ, gia tăng dân số bắt đầu diễn ra với tốc độ cao. Giai đoạn 2 - quá độ dân số: biểu thị mức chết giảm xuống rất nhanh, trong khi mức sinh mới chỉ bắt đầu giảm xuống. Trạng thái cân bằng dân số bị phá vỡ trầm trọng, gia tăng dân số đạt đến đỉnh cao.
CBR: tỷ suất sinh thô, CDR: tỷ suất chết thô Hình 2.1 Quá độ dân số Nguồn: Bloom và Williamson (1998) Giai đoạn 3 - sau quá độ dân số: mức sinh giảm xuống rất nhanh trong khi mức chết chững lại và biến đổi rất ít, khoảng cách giữa sinh và chết thu hẹp, dân số tăng chậm. Thời kỳ sau quá độ được đặc trưng bằng mức chết thấp và ổn định, trong khi mức sinh cũng thấp, tăng trưởng dân số rất chậm, thậm chí có một số nước có tăng trưởng dân số âm. Tăng trưởng dân số bằng không là khi mức sinh bằng với mức chết. Đánh giá về mối quan hệ giữa tiến trình phát triển kinh tế - xã hội với biến động dân số, các nhà nhân khẩu học đã rút ra nhận xét tất cả các dân tộc trong kỷ nguyên hiện đại đã chuyển từ nền kinh tế truyền thống trên cơ sở nông nghiệp sang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 nền kinh tế công nghiệp lớn trên cơ sở đô thị hoá, hiện đại hoá thì đều chuyển từ mức sinh và mức chết cao sang mức sinh và mức chết thấp.
Như vậy, quá độ dân số là giai đoạn nhất thiết phải trải qua, mặc dù độ dài ngắn có thể khác nhau. Theo lý thuyết này, việc giảm mức sinh là sản phẩm đi kèm của công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Tuy vậy, đối với các nước đang phát triển, dân số tăng rất nhanh, không thể chờ đợi công nghiệp hoá, đô thị hoá mà phải chấp nhận chương trình Kế hoạch hóa gia đình nhằm tác động trực tiếp đến gia tăng dân số. Lý thuyết về mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế Về mặt lý thuyết, hiện nay chưa có học thuyết nào thể hiện nội dung cụ thể và rõ ràng mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế.
Thuyết “Quá độ dân số” được xem là cơ sở đầu tiên của khung lý luận về biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng. Dựa vào sự thay đổi trong mức sinh và mức chết có thể phân tích được sự thay đổi về cơ cấu tuổi dân số trong mỗi giai đoạn. Tuy nhiên các nhà dân số học và kinh tế học giai đoạn này vẫn chưa nhận định đúng tầm quan trọng trong việc xem xét mối quan hệ giữa sự thay đổi mức sinh, mức chết và sự biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế. Theo mô hình tăng trưởng kinh tế Tân cổ điển (Solow, 1956), gia tăng dân số kiềm hãm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Trong những năm 1990, Barro (1991) đã giới thiệu một tập hợp các biến nhân khẩu học “hội tụ” vào mô hình tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung, khả năng sinh sản, tăng trưởng dân số và tỷ lệ tử vong có tác động tiêu cực, trong khi đó quy mô dân số và mật độ dân số lại có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng sản lượng của quốc gia. Trong những năm cuối thập niên 1990, hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định tăng trưởng dân số có tác động trung tính đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, họ nhận ra rằng trên thực tế có sự tương quan giữa nhân khẩu học và tăng trưởng kinh tế nếu xem xét chúng dựa trên những thay đổi về cơ cấu tuổi dân số.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.