CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tín ngưỡng và thực hành là một phần quan trọng trong đời sống của con người nói chung, người Khmer Tây Nam Bộ và người Khmer sinh sống ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nói riêng. Vấn đề này đã thu hút dược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Năm 1993, nhóm tác giả do Trường Lưu chủ biên xuất bản cuốn Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (NXB Văn hóa Dân tộc).
Công trình này đã trình bày nhiều khía cạnh: tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình. Tác giả có cái nhìn khái quát lớn về văn hóa người Khmer, nhưng tác giả chưa đi sâu và làm sáng tỏ cách thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải. Năm 2004, công trình Một số vấn đề dân tộc và phát triển của tác giả Lê Ngọc Thắng (NXB Chính trị Quốc gia) được xuất bản. Trong công trình này, bên cạnh nội dung vai trò của người già, trưởng phum, sóc và sư sãi trong xã hội truyền thống dân tộc Khmer với việc phân tích vai trò của người già, trưởng phum, sóc và sư sãi trong xã hội, tác giả cũng đã đề cấp đến các vấn đề đời sống văn hóa tín ngưỡng, trong đó, có bàn đến lễ cúng Neak Tà.
Tuy nhiên, tác giả không nghiên cứu sâu về tín ngưỡng này và đề cập đến tín ngưỡng với tư cách là một di sản cần được bảo tồn. Năm 2011, nhóm tác giả do Phạm Thị Phương Hạnh chủ biên đã công bố công trình Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắt văn hóa Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia Sự thật). Tác giả đã mô tả một bức tranh toàn diện về văn hóa Khmer Nam Bộ qua các mặt: tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, nghề ngành truyền thống…Trong công trình này, tác giả chưa phân ranh giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo. Năm 2012, công trình “Diện mạo văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian Trà 7 Vinh” của nhóm tác giả Trần Dũng và tác giả Đặng Tấn Đức được xuất bản.
Công trình này gồm ba phần, phần một là vấn đề chung, phần hai là văn hóa dân gian làng ven biển Mỹ Long và phần ba là lễ hội cúng biển Mỹ Long. Trong phần một, khi trình bày tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Việt, tộc người Hoa, tác giả dành khoảng 33 trang để nói về tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Khmer. Trong 33 trang này, tác giả dành khoảng 15 trang để bàn về tín ngưỡng thờ Neak Tà ở tỉnh Trà Vinh. Theo các tác giả của công trình này, tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Trà Vinh được kế thừa từ Bà la môn giáo qua thực hành tín ngưỡng của tín đồ phật tử.
Ở đây, tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer cũng đã được phân tích trong so sánh với tín ngưỡng thờ thần thành hoàng của người Việt. Đây là một công trình có sự phân tích khá cặn kẽ tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer ở Trà Vinh, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của công trình là ở toàn tỉnh Trà Vinh, chưa tập trung vào tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải. Tài liệu này có ý nghĩa hết sức quan trọng cho chúng tôi tham khảo khi thực hiện luận văn này. Năm 2013, Nguyễn Văn Lượm đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ Tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà cú, tỉnh Trà vinh và sự biến đổi của nó trong cuộc sống đương đại (Đại học Trà Vinh).
Luận văn tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Khmer từ góc độ văn hoá học, phạm vi nghiên cứu là huyện Trà Cú. Kết quả nghiên cứu của luận văn này có những gợi ý hữu ích cho luận văn của chúng tôi. Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài: “Văn hóa Phum Sóc – Truyền thống và biến đổi (qua trường hợp xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long)”. Trong luận văn, tác giả nghiên cứu về các vấn đề đời sống văn hóa như: nhà ở, phương tiện đi lại, các loại thực phẩm ẩm thực và trang phục của người Khmer.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh, các phong tục và lễ hội của bà con Khmer. Trong phần tín ngưỡng, tác giả có nghiên cứu tín ngưỡng Neak Tà về tha la Neak 8 Tà, tên các thần Neak Tà, cách thực hành nghi lễ tại xã Loan Mỹ huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên, Luận văn này không đề cập đến các vấn đề biến đổi di sản trong việc thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải. Tuy vậy, nó được xem là tài liệu hữu ích cho luận văn này.
Năm 2015, hai tác giả Lâm Quang Vinh và Tiền Văn Triệu đã biên soạn công trình Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ (Nhà xuất bản Khoa học xã hội). Trong công trình của mình, tác giả đã khái quát về người Khmer Nam Bộ trên các bình diện như: số lượng dân cư, người gốc tộc người, đặc trưng dân trú, trang phục, nhà ở, tiếng nói và chữ viết, hôn nhân và gia đình, sân khấu, nghệ thuật dân gian của người Khmer Nam Bộ. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề cập đến đặc trưng văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ trên những khía cạnh như: tín ngưỡng tôn giáo, chùa trong văn hóa Khmer Nam Bộ và văn hóa lễ hội. Tác giả cũng đi sâu vào việc mô tả lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ từ cái nhìn lý luận qua những luận điểm lớn và dưới góc nhìn văn hóa.
Đặc biệt trong chương hai, tác giả có đề cập đến lễ cúng Neak Tà là lễ hội đặc trưng của người Khmer Nam Bộ. Tác giả nêu lên được sự khác biệt, sự biến đổi Neak Tà xưa và nay của người Khmer toàn vùng Nam bộ. Tác giả không nghiên cứu sâu về cách thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh. Nhưng tài liệu này thật sự có giá trí và có ý nghĩa quan trọng cho việc làm luận cứ nghiên cứu luận văn này.
Năm 2018, tác giả Thạch Thị Rọ Mu Ni hoàn thành khóa luận thạc sĩ với đề tài “Lễ Vật Sla-tho Của Người Khmer Nam Bộ (qua khảo sát tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)”. Ngoài việc nghiên cứu về cách thức chế tác các loại sla-tho, cách sử dụng và ý nghĩa của nó, tác giả còn đề cập đến các tín ngưỡng dân gian. Từ trang 16 đến trang 18, tác giả có miêu tả cách tổ chức lề thờ Neak Tà một cách chung chung. Nhưng tác giả không đề cập đến sự thay đổi trong cách thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh.
Tài liệu này cũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện luận văn này. 9 Năm 2020, Trần Thiện Thiên Thanh đã hoàn thành luận văn thạc sĩ văn hóa học về “Tín ngưỡng thờ Néak Tà của cư dân ấp Ba Se B, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh”. Trong luận văn này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề hiện nay của cộng đồng cư dân Ba Se B như về niềm tin và sự thực hành tín ngưỡng thờ Néak Tà, bên cạnh đó tác giả còn nói lên những biến đổi trong việc thực hành thờ Néak Tà và nguyên nhân biến đổi ấy. Đồng thời tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Néak Tà của cư dân ấp Ba Se.
Tài liệu này nghiên cứu trong phạm vi ấp Ba Se xã Lương Hòa huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, không phải trong huyện Duyên Hải. Đây cũng là tài liệu có ý nghĩa khá quan trọng đối với luận văn trong việc tham khảo về hiện trạng thực hành tín ngưỡng, các yếu tố dẫn đến những biến đổi đó. Bên cạnh đó, một loạt công trình nghiên cứu của Viện Dân tộc học (Vương Xuân Tình, Vũ Đình Mười, Lê Thị Hường…) nghiên cứu về người Khmer và các cộng đồng xuyên quốc gia trong đó có các nghiên cứu về người Khmer mới xuất bản gần đây. Đây cũng là các công trình có giá trị gợi ý quý báu cho việc triển khai nội dung luận văn của chúng tôi.
Nhìn chung, thời gian qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian – tín ngưỡng thờ cúng Neak Tà của đồng bào Khmer, nhưng tất cả các công trình đều chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về biến đổi văn hoá thông qua việc thực hành di sản tín ngưỡng này nói chung, ở huyện Duyên Hải nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu từ góc độ văn hoá học về tín ngưỡng thờ Neak Tà và một số biến đổi từ góc độ văn hoá học sẽ là những gợi ý để chúng tôi thực hành luận văn này từ mã ngành Di sản học. Cụ thể là, thông qua các khía cạnh của thực hành tín ngưỡng di sản (chủ thể cộng đồng, quản lý di sản, chính sách di sản), Luận văn sẽ nhận diện những biến đổi văn hoá đã và đang xảy ra từ quá trình thực hành di sản và di sản hoá tín ngưỡng này. MỘT SỐ KHÁI NIỆM - Biến đổi văn hoá: UNESCO đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Trần Ngọc Thêm lại coi “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [38, tr10]. Tóm lại, văn hóa là bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác. Lịch sử cho ta thấy văn hóa luôn luôn vận động và phát triển thông qua quá trình giao lưu và tiếp nhận các nền văn hóa khác nhau. Những thay đổi về biểu đạt văn hoá của một cộng đồng chủ thể thực hành văn hoá theo thời gian so với các biểu đạt trước đây.
Trong quá trình đó, bản sắc văn hóa dân tộc luôn phát huy giá trị và khắc chế những khuyết điểm của mình để phù hợp với xu thế và thực tại của cộng đồng thực hành văn hóa.