Chương 1: Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm Chương 2: Văn hóa làng Vân Điềm trước năm 1986 Chương 3: Văn hóa làng Vân Điềm từ sau năm 1986 đến nay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG C ươ n 1: KINH T - XÃ HỘI ÀN G VÂN ĐI 1. Kinh tế - xã hộ l n Vân Đ ềm trướ ổi mới 1. Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp Làng Vân Điềm có tên Nôm là Kẻ Đóm, được hình thành từ thế kỉ thứ XIII, vào thời kỳ nhà Trần lên ngôi thay nhà Lý. Từ cuối thế kỷ XV tại khu vực Vân Điềm đã hình thành 4 cụm dân cư là: làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Nội Điểm.
Sau đó, 4 cụm dân cư này hội cư về một khu vực, hình thành một làng lớn hơn, có tên trong sổ hành chính là làng Nội Điểm (thuộc tổng Hà Lỗ). Tổng Hà Lỗ khi đó gồm 9 xã, thôn: xã Hà Lỗ, thôn Thiết Úng thuộc xã Thiết Úng, thôn Cổ Châu thuộc xã Thiết Úng, xã Thiết Bình, xã Vân Điềm, xã Lỗ Khê, xã Hà Vĩ, xã Ngô Khê, xã Thù Lỗ. Năm 1822, trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh, khu vực xã Vân Hà (hiện nay) thuộc về địa giới 4 xã Ngô Khê, Thiết Úng, Thiết Bình và Vân Điềm thuộc tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Bắc Ninh. Từ năm 1831, sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, xã Vân Điềm thuộc tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đầu thế kỷ XX, xã Vân Điềm thuộc tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Vân Điềm cùng các xã Hà Khê, Thiết Úng, Thiết Bình, Cổ Châu được thành lập thành xã Vân Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1961, làng Vân Điềm thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Khi tìm hiểu về tình hình kinh tế nông nghiệp của làng xã Việt Nam, vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm chính là vấn đề sở hữu ruộng đất.
Theo địa bạ Gia Long (1804) tổng diện tích tư điền xã Vân Điềm, số liệu là 216 mẫu 4 sào 2 thước 8 tấc, nhưng khi cộng từng thửa lại diện tích ruộng tư chỉ có được 213 mẫu 1 sào 1 thước 4 tấc, còn thiếu 3. Những sai khác trên đây một phần do tính phức tạp, đa dạng của các loại hình sở hữu, một phần do bị nhầm lẫn ngay từ lúc làm địa bạ hoặc do lỗi sao chép. Tổng diện tích công điền và tư điền ở xã Vân Điềm là 221 mẫu 10 sào 2 thước 8 tấc, còn lại là ruộng Thần Từ, Phật Tự, Kỵ Điền tại xứ Cửa Cầu 1 sở 8 mẫu 11 thước 4 tấc và Thổ trạch viên trì tại xứ Trong Làng 1 khu 52 mẫu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 sào 12 thước (trong đó dân cư ở cũ là 21 mẫu 3 sào). Nhìn chung, bộ phận giữ vị trí lớn là ruộng tư điền, bộ phận này chiếm 213.
Số liệu bảng dưới đây sẽ cho phép hiểu mối quan hệ giữa tính chất sở hữu với chất lượng các loại ruộng. Tình hình công tư điền thổ của xã Vân Điềm đầu thế kỷ XIX Phân lo i ruộng Tổng cộng Tính chất sở II III hữu Di n tích % Di n tích % Di n tích % Tư điền thổ 86.8 99,98% Công điền thổ 5.8 100,00% Nguồn: Thống kê từ địa bạ Gia Long (1804) Chỉ tính riêng trong bộ phận ruộng, sở hữu tư nhân chiếm 216. Theo cách phân loại ruộng của địa bạ (chia làm 3 hạng): đẳng hạng, ruộng hạng nhất là loại tốt nhất, rồi lần lượt tới hạng nhì, hạng ba nhưng ở xã Vân Điềm thì chỉ có nhị đẳng điền và tam đẳng điền (ruộng hạng 2 và ruộng hạng 3), là loại kém màu mỡ, khô cằn, khó canh tác. Có thể thấy chất lượng ruộng không được tốt.
Điều này phản ánh tính chất ruộng đất phụ thuộc chủ yếu vào địa hình, khí hậu của địa bàn và loại hình ruộng đất còn phụ thuộc vào thời tiết. Quy mô sở hữu ruộng tư ở xã Vân Điềm Quy mô Số chủ Di n tích sở hữu Dưới 1 mẫu 51 = 40,16 % 19.8 = 5,44% Nguồn: Thống kê từ địa bạ Gia Long (1804) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biểu đồ 1: Quy mô sở hữu của xã Vân Điềm Nhìn vào phân bố tỉ lệ ruộng có thể thấy ngay rằng số chủ và diện tích sở hữu tương đương nhau là từ 1 đến 3 mẫu. Tuy nhiên khi xét về diện tích thì tỉ lệ cao nhất là lớp sở hữu từ 3 - 5 mẫu (39,01%), mặc dù họ chỉ chiếm 18,11% số chủ. Số chủ sở hữu nhỏ thuộc 2 lớp từ 5 - 10 mẫu (2,36%) và từ 10 - 20 mẫu (0,78%).
Qua đây ta có thể thấy đa phần là số chủ sở hữu chiếm quy mô từ dưới 1 mẫu cho đến từ 3 -5 mẫu, hộ dân nghèo sản xuất nông nghiệp là chính. Có thể thấy tỉ lệ từ 10 - 20 mẫu chỉ có 1 chủ sở hữu, có lẽ đây là phú nông hoặc địa chủ giàu có. Quy mô sở hữu theo nhóm dòng họ C ủ sở ữ u D nt Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ STT Họ (người) (%) (m.9 1,06% 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo thống kê địa bạ đầu thế kỷ XIX cho ta thấy có tất cả 4 dòng họ, trong đó dòng họ Nguyễn chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng người ở sở hữu tư điền cũng như diện tích sở hữu. Họ Nguyễn có số chủ sở hữu (chiếm 96,85% ) nắm giữ hơn 200 mẫu (chiếm 97,86%), tiếp đó là 2 chủ hộ họ Dương, 1 chủ hộ họ Đỗ và 1 chủ hộ họ Nghiêm.
Trong số họ Nguyễn thì có 1 -2 hộ là dân ở xã khác đến phụ canh là Nguyễn Hữu Mô ở xã Bình Lâm, huyện Yên Phong; Nguyễn Đức Mại và Nguyễn Trí Cự ở xã Quan Độ; Nguyễn Đình Nghị ở xã Thiết Bình. Riêng 2 chủ hộ họ Dương là Dương Thế Thịnh và Dương Văn Đàn thuộc xã Hà Lỗ; chủ hộ họ Đỗ là Đỗ Tiến Học người xã Bình Lâm, huyện Yên Phong. Qua đây ta có thể thấy, tình hình sở hữu ruộng đất ở xã Vân Điềm nói chung là manh mún, nhỏ lẻ. Chủ yếu là tình trạng thực canh chỉ xuất hiện vài hộ ở xã khác đến phụ canh.
Thuộc khu vực huyện Đông Anh - đây chính là miền châu thổ đầu tiên được bồi đắp sau khi sông Hồng tiếp nhận các phụ lưu lớn là sông Lô và sông Đà. Huyện Đông Anh nằm trong khu vực chuyển giữa trung du và đồng bằng, từ miền đồi núi xuống vùng châu thổ. “Đầu thế kỷ XV để phục hồi nông nghiệp sau chiến tranh giải phóng dân tộc, vua Lê Thái Tổ cho nhập ruộng hoang vắng chủ vào ruộng công của làng. Một số ruộng đất tư được công hữu hóa trở lại.
Đầu thế kỷ XIX: những địa bạ Gia Long (ra đời dưới triều Nguyễn đầu tiên) cho thấy rằng số ruộng đất tư tại từng xã ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ đến lúc bấy giờ đã át hẳn số lượng ruộng công”3 - Như bảng phân tích trên đã thấy rõ phần nào. Ruộng đất của làng vốn là công hữu, việc chia ruộng đất của làng xã cho dân làng đã có từ rất sớm. Nhưng phân chia ruộng đất theo định kỳ thì xuất hiện muộn. Việc nhận ruộng cày cấy suốt đời hoặc chỉ được thời gian mấy năm rồi trả lại cho làng để nhận đám khác có từ sớm, nhưng việc phân chia ruộng đất làng xã theo định kỳ lần đầu tiên được quy định thành luật lệ là chế độ quân điền của triều đình Lê Thánh Tông.
Chế độ quân điền được thực hiện là một biến cách lớn trong làng xã. Nó chi phối sự phát triển của làng, xã cuối thế kỷ XV trở về sau trên các mặt kinh tế, chính trị và cả tư tưởng, văn hóa. 3 Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt Cổ truyền ở Bắc Bộ, NXB. Khoa học xã hội, tr.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về kinh tế, ruộng công và chế độ quân điền đã ràng buộc người nông dân trong làng xã. Khi mất mùa đói kém, họ có thể đi nơi khác, nhưng trước sau vẫn trở về làng cũ vì làng cũ vẫn chia ruộng đất cho họ, sự ràng buộc này từ quan hệ kinh tế dần thành phong tục tập quán và tâm lý tình cảm. “Cuối năm 1955, được sự chỉ đạo cấp trên đội cải cách ruộng đất được thực hiện tại xã Vân Hà với phương châm “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên hiệp phú nông, đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ”. Chi bộ tại xã chỉ đạo chính quyền phân hóa các đối tượng địa chủ, tiến hành tịch thu, trưng thu, trưng mua được hơn 666 mẫu ruộng; 2856 kg thóc; 18 con trâu bò; hơn 26 mẫu đất ở; 245 gian nhà.
Uy thế của giai cấp địa chủ ngự trị ở nông thôn hoàn toàn sụp đổ, người lao động thực sự làm chủ. Tính trung bình toàn xã, tổng số ruộng đất là 1.324 mẫu 1 sào; bình quân ruộng cho mỗi nhân khẩu là 3 sào. Song hành cùng cải cách ruộng đất, chi bộ và chính quyền đoàn thể quần chúng vận động nhân dân tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉ sau vài tháng nhiều diện tích hoang hóa ở cánh đồng các thôn đều được phục hồi và gieo trồng kip thời vụ”4. Giai đoạn từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 12 năm 1960, nhân dân Vân Điềm cùng toàn xã thực hiện cải cách ruộng đất, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa.
Hậu quả của chiến tranh để lại cho xóm làng bị tàn phá, trâu, cày kéo và nhân lực thiếu nghiêm trọng. Thôn xóm xác xơ do giặc đốt phá, vơ vét nhiều năm liền. Một bộ phận người dân ở các thôn đi tản cư về không có chỗ ở, phải đến ở nhờ nhà người thân hay các điếm công của làng. Trong khi đó, công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu, đời sống nhân dân lại càng gặp nhiều khó khăn.
Tháng 6 năm 1955, xã thực hiện việc giảm tô, giảm tức. Sau khi tổ chức học tập, quán triệt chính sách ruộng đất của Đảng và chính phủ trong chi bộ và nông hội, đội giảm tô đã phân công cán bộ về các thôn “thăm nghèo hỏi khổ”, “bắt rễ xâu chuỗi”.