Khóa luận tốt nghiệp văn học bi kịch người nông dân trong truyện ngắn của nam cao trước cách mạng tháng tám 1945

Khóa luận phân tích bi kịch người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945, khám phá giá trị văn học sâu sắc.

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

84
13
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

2. PHẦN NỘI DUNG

2. CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TÁC GIẢ NAM CAO

2.1. Một số nét về nhà văn Nam Cao (1917-1951)

2.2. Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

2.2.1. Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám

2.2.2. Thời kỳ sau cách mạng tháng Tám

2.2.3. Quan niệm sáng tác

2.3. Đề tài người nông dân – một trong những đề tài lớn trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

2.4. Khái niệm về cái bi

3. CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN BI KỊCH CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

3.1. Tình cảnh của người nông dân

3.1.1. Luôn làm việc vất vả, cực nhọc

3.1.2. Luôn bị cái đói hành hạ

3.2. Biểu hiện bi kịch

3.2.1. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

3.2.2. Bi kịch vỡ mộng

3.2.3. Bi kịch tự ý thức

4. CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ NGHỆ THUẬT GÓP PHẦN KHẮC HỌA BI KỊCH CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN

4.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật

4.1.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình

4.1.2. Nghệ thuật miêu tả nội tâm

4.1.3. Nghệ thuật miêu tả hành động, cử chỉ

4.2. Giọng điệu kể lể, thống thiết

4.3. Giọng điệu cảm thông, chia sẻ

4.4. Giọng điệu trân trọng và trìu mến

4.5. Giọng điệu xót xa và đau đớn

4.6. Giọng điệu lạnh lùng và chua chát

KẾT LUẬN

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bi Kịch Người Nông Dân Trong Truyện Ngắn Nam Cao

Truyện ngắn của Nam Cao trước 1945 đã khắc họa rõ nét bi kịch của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Những tác phẩm như "Chí Phèo" và "Lão Hạc" không chỉ phản ánh cuộc sống khốn khổ mà còn thể hiện tâm tư, tình cảm của những con người bị áp bức. Nam Cao đã sử dụng ngòi bút hiện thực sắc sảo để vẽ nên bức tranh sinh động về nỗi đau và sự bế tắc của người nông dân Việt Nam.

1.1. Tác Phẩm Nổi Bật Của Nam Cao Về Người Nông Dân

Nam Cao đã viết nhiều tác phẩm nổi bật về người nông dân, trong đó có "Chí Phèo" và "Lão Hạc". Những nhân vật này không chỉ đại diện cho số phận bi thảm mà còn phản ánh sâu sắc tình cảnh xã hội lúc bấy giờ.

1.2. Đặc Điểm Nghệ Thuật Trong Các Tác Phẩm

Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong các tác phẩm của Nam Cao rất tinh tế. Ông sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng đầy sức nặng để thể hiện nỗi khổ của người nông dân, từ đó tạo nên sự đồng cảm mạnh mẽ từ phía độc giả.

II. Vấn Đề Bi Kịch Của Người Nông Dân Trong Truyện Ngắn Nam Cao

Bi kịch của người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao không chỉ là nỗi khổ về vật chất mà còn là sự tha hóa về tinh thần. Những nhân vật như Chí Phèo hay Lão Hạc đều phải đối mặt với những bi kịch sâu sắc, từ việc bị cự tuyệt quyền làm người đến sự vỡ mộng trong cuộc sống.

2.1. Bi Kịch Về Vật Chất

Người nông dân luôn phải sống trong cảnh đói nghèo, thiếu thốn. Họ làm việc vất vả nhưng vẫn không đủ ăn, điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của Nam Cao.

2.2. Bi Kịch Về Tinh Thần

Sự tha hóa về tinh thần là một trong những bi kịch lớn nhất mà người nông dân phải gánh chịu. Họ không chỉ mất đi nhân phẩm mà còn đánh mất cả ước mơ và hy vọng.

III. Phương Pháp Phân Tích Bi Kịch Người Nông Dân Trong Tác Phẩm Nam Cao

Để phân tích bi kịch người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phân tích nhân vật, bối cảnh xã hội và ngôn ngữ là những yếu tố quan trọng giúp hiểu rõ hơn về bi kịch này.

3.1. Phân Tích Nhân Vật

Nhân vật trong các tác phẩm của Nam Cao thường mang trong mình những nỗi đau sâu sắc. Việc phân tích tâm lý và hành động của họ sẽ giúp làm nổi bật bi kịch mà họ phải trải qua.

3.2. Bối Cảnh Xã Hội

Bối cảnh xã hội thực dân phong kiến là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành bi kịch của người nông dân. Sự áp bức và bất công trong xã hội đã tạo ra những số phận bi thảm cho họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Bi Kịch Người Nông Dân

Nghiên cứu về bi kịch người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn học mà còn có thể áp dụng vào việc giáo dục và nâng cao nhận thức xã hội. Những bài học từ tác phẩm có thể giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ hơn về giá trị của con người.

4.1. Giáo Dục Nhận Thức Xã Hội

Việc giảng dạy các tác phẩm của Nam Cao có thể giúp học sinh hiểu rõ hơn về hoàn cảnh lịch sử và xã hội, từ đó phát triển lòng nhân ái và sự đồng cảm với những người xung quanh.

4.2. Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa

Nghiên cứu về bi kịch người nông dân cũng góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Những tác phẩm của Nam Cao là tài sản quý giá của văn học Việt Nam, cần được gìn giữ và phát huy.

V. Kết Luận Về Bi Kịch Người Nông Dân Trong Truyện Ngắn Nam Cao

Bi kịch người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945 là một chủ đề sâu sắc và đầy ý nghĩa. Những tác phẩm của ông không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. Qua đó, Nam Cao đã để lại cho đời những bài học quý giá về nhân phẩm và giá trị con người.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Tác Phẩm

Tác phẩm của Nam Cao không chỉ có giá trị văn học mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Chúng giúp người đọc nhận thức rõ hơn về số phận của người nông dân trong xã hội.

5.2. Hướng Tới Tương Lai

Nghiên cứu về bi kịch người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao sẽ tiếp tục là một lĩnh vực quan trọng trong văn học, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về quá khứ và giá trị của con người.

15/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp văn học bi kịch người nông dân trong truyện ngắn của nam cao trước cách mạng tháng tám 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TÁC GIẢ NAM CAO 1. Mấy nét về cuộc đời của nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao (1917 - 1951) 1. Tiểu sử Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1915. Quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, Tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Nam Cao sinh trưởng và lớn lên trong một gia đình trung nông lúc trước có kết hợp buôn bán ít nhiều nhưng về sau bị phá sản. Ông thân sinh Nam Cao có mở một hiệu đồ gỗ ở phố hàn Tiện – Nam Định, sau vì thua lỗ nên cửa hàng vỡ, lại trở về làm ruộng. Gia đình Nam Cao sống khá chật vật, đông anh em và chỉ có một mình Nam Cao được đi học. Từ nhỏ Nam Cao đã được lên Nam Định đi học.

Năm 1934, Nam Cao thi trượt Thành Chung. Đầu năm 1935, Nam Cao trở về quê để chữa bệnh. Cũng như đa số thanh niên thời bấy giờ, Nam Cao cưới vợ khi anh mười tám tuổi. Và đó là ngày 2/10/1935 Nam Cao đã lập gia đình với bà Trần Thị Sen.

Vợ ông kém hơn ông một tuổi. Hai gia đình ở cùng xã đều sống bằng nghề nông nghiệp nhưng so về kinh tế thì gia đình bên vợ của Nam Cao có phần khá giả hơn. Vợ của Nam Cao là một người vợ hết mực yêu chồng và lo lắng cho chồng nhưng lắm khi cũng khổ vì chồng. Khi vừa cưới vợ xong được một tháng Nam Cao lên Nam Định đi tàu về Sài Gòn sống và làm việc cho một người cậu là ông Ba Lễ, chủ một cơ sở may đồ Tây cho Pháp.

Nam Cao là một cậu học trò hiền lành nhút nhát nhưng cũng có nhiều điều mơ mộng nên Nam Cao quyết định theo người cậu vào Sài Gòn sinh sống ấp ủ bao nhiêu ước mơ muốn theo đuổi việc học tập của mình với hi vọng sẽ được sang Tây du học nhằm để mở rộng tằm hiểu biết và để học hỏi “Y sẽ vào Đại học đường, y sẽ sang Tây, y sẽ thành vĩ nhân đem những đổi thay lớn lao đến xứ sở mình” (Sống mòn). Và trong những năm sống ở Sài Gòn, Nam Cao phải lăn lộn vất vả để kiếm sống, ngoài việc làm chính thì Nam Cao còn làm rất nhiều nghề khác như chích thuốc ở nhà thương, sống chung với phu phen, thợ thuyền. Chính những năm tháng lao động đầy cực khổ này đã giúp cho Nam Cao nhìn thấy 9 đã hiểu biết về đời sống khổ cực bị đọa đày cả về vật chất lẫn tinh thần của những người lao động mà đặc biệt là tầng lớp tiểu tư sản và nông dân lao động nghèo. Nhưng bao hoài bão bao khát vọng của Nam Cao chưa thực hiện được thì bệnh tật lại đến và hành hạ thân xác Nam Cao.

Nam Cao quay về làng cũ lúc này thì hoàn cảnh gia đình lâm vào tình trạng túng quẫn “Lũ em lúc nhút rất đông không được học,không được mặc, thường thường không đến cả ăn, gầy guộc, rách rưới, bẩn thỉu” (Sống mòn), và một ông bố nát rượu. Đến năm 1938, Nam Cao bị ốm nặng do bệnh tim và tê thấp nên ông từ Sài Gòn trở ra Bắc. Đứng trước bao chông gai và trở ngại của cuộc sống nhưng bằng sự kiên cường và lòng quyết tâm đã tiếp thêm sức mạnh cho Nam Cao mạnh dạn ôn lại vốn học cũ và đi thi đậu bằng Thành Chung. Sau đó Nam Cao xin làm công chức nhưng vì sức khỏe yếu nên không được nhận vào làm.

Và lúc này ông xin vào làm dạy học trong trường tư thục Công Thanh. Chính môi trường dạy học nhiều vất vả của một thầy giáo trường tư nên Nam Cao một phần nào hiểu rõ hơn về thân phận của những người trí thức tiểu tư sản nghèo dưới chế độ thực dân nữa phong kiến. Năm 1940, khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương thì lúc này Trường Công Thanh bị chúng lấy để làm chuồng ngựa. Lúc này Nam Cao đành lui về sống một cuộc sống đói khổ, cơ cực và tủi nhục cùng với những người nông dân lao động nghèo ở làng Đại Hoàng.

Để trang trải cuộc sống và để phần nào giảm nhẹ gánh nặng cho gia đình Nam Cao phải viết văn để kiếm sống. Đồng thời qua tác phẩm đó Nam Cao cũng muốn gửi gắm những tâm tư, tình cảm và cái nhìn của mình đối với thực tại của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1943, Nam Cao tiếp thu đường lối đúng đắn của Đảng Cộng Sản Đông Dương qua đề cương văn hóa 1943 và sự giới thiệu của Tô Hoài, Nam Cao tham gia vào nhóm văn hóa cứu quốc bí mật cùng với Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…Và từ đó, Nam Cao đã xác định và quan điểm lập trường tư tưởng của mình trong sáng tác gắn liền với “nghệ thuật vị nhân sinh”. Khi cơ sở Văn hóa cứu quốc và Phong trào Cách mạng thanh niên bị giặc khủng bố Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt minh ở địa phương.

Khi cả nước bước vào cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đầy cam go và ác liệt, Nam Cao cũng tham gia vào phong trào cướp chính quyền của phủ lý nhân và Nam Cao được bầu làm chủ tịch xã. Sau đó, Nam Cao được lên Hà Nội và công tác ở hội Văn hóa cứu quốc. Có Thời kỳ Nam Cao được làm thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong. 10 Đây là cơ quan ngôn luận của Hội cứu quốc.

Cuộc Cách Mạng tháng Tám thành công rực rỡ, cả dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ chuyển sang thân phận làm chủ đất nước. Nhưng niềm vui thống nhất đất nước không trọn vẹn thì bọn thực dân Pháp đã điên cuồng quay đầu lại xâm lượt đất nước ta một lần nữa. Vào ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước cùng đứng lên chiến đấu chống lại thực dân Pháp và kháng chiến chống Pháp toàn nước bùng nổ. Nam Cao theo tiếng gọi của quê hương theo đoàn Nam tiến vào Nam Trung Bộ.

Năm 1947, ông lên Việt Bắc, những năm kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ chính là lúc Nam Cao sống và chiến đấu hết mình vì quê hương và tổ quốc. Nam Cao đã tham gia cuộc chiến,va chạm cuộc sống thực tế của cuộc chiến để có những tác phẩm mang giá trị hiện thực và phản ánh đúng cuộc chiến mà cả dân tộc Việt Nam đang đấu tranh chống thực dân pháp. Nam Cao vừa làm biên tập cho báo Cứu quốc Việt Bắc, báo Cứu quốc Trung Ương, vừa là cộng tác viên tuyên truyền thông tin: viết tin, viết tài liệu giải thích các chính sách, làm ca dao tuyên truyền, viết truyền đơn địch vận,…Năm 1948, Nam Cao được vinh dự kết nạp vào hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Đông Dương, đây là niềm vinh dự và niềm vui lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của nguời chiến sĩ cộng sản Nam Cao. Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu Ba, Nam Cao bị một toán địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan, Ninh Bình.

Nam Cao ngã xuống giữa lúc ông đang ấp ủ cuốn tiểu thuyết lớn về quê hương. Chuyến đi đó nhà văn lấy tư liệu hoàn chỉnh về tác phẩm Làng nhưng ông không kịp thực hiện được hoài bão và khát vọng của cuộc đời mình. Về con người của nhà văn, Nam Cao là một con người hiền lành, trầm mặc, nhút nhát đến vụng về, có vẻ như lạnh lùng khó gần. Nam Cao rất khổ tâm về cái tật “hãi người” và “cái mặt không chơi được” (tên một truyện ngắn) của Nam Cao.

Con người “mảnh khảnh thư sinh, ăn nói ôn tồn nhiều khi rụt rè, mỗi lúc lại đỏ mặt mà kì thực mang trong lòng một sự phản kháng mãnh liệt”. Trước Cách mạng tháng Tám Nam Cao luôn sống trong tâm rạng đau khổ, u uất, bất đắc chí. Phần vì ốm yếu, thất nghiệp nên Nam Cao sống lay lắt qua ngày bằng nghề viết văn và dạy học – là hai nghề bạc bẽo khi đó. Nam Cao viết văn rất sớm và khá nhiều, tài năng trưởng thành rất nhanh.

Nhưng gần mười năm viết văn trước cách mạng, Nam Cao hầu như không có vị trí trên văn đàn đương thời. Hầu 11 hết những truyện dài của Nam Cao đều phải bán bản quyền để rồi vứt đi vào một xó nào đó cho đến khi bản thảo bị thất lạc.2 Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 1. Thời kì trước cách mạng tháng Tám 1945 Năm 1936, Nam Cao mới bước vào văn đàn hiện thực phê phán, đây là giai đoạn diễn ra quá trình đấu tranh quan điểm tư tưởng nghệ thuật, cũng như khuynh hướng sáng tác cho mình. Và đây cũng là thời kì mà Nam Cao đang phiêu bạt ở đất lạ quê người.

ở sài gòn ông làm đủ nghề để kiếm sống vừa viết báo cho Kịch bóng, tiểu thuyết thứ 7, Ngày nay. Nội dung của những tác phẩm thời kì này xoáy sâu vào cuộc sống của những người kiếm sống bằng nghề mua vui cho người khác “Cảnh cuối cùng” nói về cô đào hát hát đam mê ca hát, suốt đời chỉ biết nghệ thuật nhưng cuối cùng cô đã gục trên sân khấu với cả giọng hát của mình. Và truyện “Hai xác chết” kể về một diễn viên nghèo bị tình phụ và anh ta đã giết chết người tình của mình trong lúc biểu diễn cùng nhau. Những tác phẩm thời kì này chưa được đánh giá cao vì chúng chưa đạt đến độ sắc xảo về nội dung và nghệ thuật.

lúc này Nam Cao lấy bút danh là: Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khuê. Năm 1937, ông gửi in trên Tiểu thuyết Thứ bảy: Nghèo, Đui mù. Trên báo Hữu Ích: những cánh hoa tàn, một bà hào hiệp. thông qua nội dung của những tác phẩm này ta thấy được ngòi bút Nam Cao đang đi vào khai thác bản chất của cuộc sống và phản ánh hiện thực cuộc sống.

Đây chính là dấu hiệu chuyển mình về khuynh hướng sáng tác trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao. Từ năm 1940, khi phát xít Nhật tràn vào Việt Nam âm mưu bành trướng sở hữu Đông Dương, trường Tư thục Công Thanh nơi mà Nam Cao đang dạy học bị chiếm đóng. Nam Cao buộc thôi dạy phải về quê và viết truyện ngắn Cái chết của con mình gửi cho báo Hà Nội Tân văn với bút danh Xuân Du. Năm 1941, là năm đánh dấu sự thành công vang dội và khẳng định tên tuổi của Nam Cao trong dòng văn học hiện thực phê phán khi Nam Cao đem trình làng tập truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi( bên trong bản thảo là cái lò gạch cũ, sau dược đổi tên la Chí Phèo).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ