Luận văn thạc sĩ về bất đồng chính trị giữa Indonesia và Malaysia giai đoạn 1957-1965

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh quan hệ indonesia và malaysia giai đoạn 1957 1965 những bất đồng chính trị, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2016

130
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Đóng góp của đề tài

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI MỐI QUAN HỆ GIỮA INDONESIA VÀ MALAYSIA GIAI ĐOẠN 1957-1965

1.1. Bối cảnh quốc tế

1.2. Chiến tranh lạnh và sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu

1.3. Mối quan hệ của Indonesia và Malaysia với hai khối

1.4. Bối cảnh khu vực

1.5. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập ở Đông Nam Á

1.6. Hội nghị Bandung năm 1955

1.7. Tình hình chính trị của Indonesia và Malaysia

1.7.1. Tình hình chính trị của Indonesia

1.7.2. Tình hình chính trị của Malaysia

1.8. Singapore, Sabah và Sarawak gia nhập Liên bang Malaysia

1.9. Khái quát về mối quan hệ Indonesia và Malaysia trước năm 1957

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG BẤT ĐỒNG CHÍNH TRỊ GIỮA INDONESIA VÀ MALAYSIA GIAI ĐOẠN 1957 - 1965

2.1. Những bất đồng chính trị giữa Indonesia và Malaysia giai đoạn 1957 - 1962

2.2. Những bất đồng trong chính sách đối nội và đối ngoại của Indonesia và Malaysia

2.3. Những bất đồng quan điểm giữa Indonesia và Malaysia về vai trò lãnh đạo khu vực

2.4. Sự căng thẳng giữa Indonesia và Malaysia thông qua các cuộc nổi dậy ở Brunei, Sarawak

2.5. Cuộc đối đầu quân sự giai đoạn 1963 – 1965

2.5.1. Những diễn biến chính của cuộc đối đầu quân sự

2.5.2. Kết quả của cuộc đối đầu quân sự Indonesia và Malaysia

2.5.3. Sự can thiệp từ bên ngoài trong cuộc đối đầu giữa Indonesia và Malaysia

2.6. Bình thường hóa quan hệ Indonesia và Malaysia

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA BẤT ĐỒNG CHÍNH TRỊ GIỮA INDONESIA - MALAYSIA ĐỐI VỚI BẢN THÂN MỖI QUỐC GIA VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

3.1. Đối với Indonesia

3.1.1. Về kinh tế - xã hội

3.1.2. Về an ninh - chính trị

3.1.3. Về đối ngoại

3.2. Đối với Malaysia

3.2.1. Về kinh tế - xã hội

3.2.2. Về an ninh - chính trị

3.2.3. Về đối ngoại

3.3. Đối với Đông Nam Á

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bất đồng chính trị giữa Indonesia và Malaysia giai đoạn 1957 1965

Giai đoạn từ năm 1957 đến 1965 chứng kiến những bất đồng chính trị sâu sắc giữa Indonesia và Malaysia. Hai quốc gia này, mặc dù có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hóa, nhưng lại rơi vào tình trạng căng thẳng chính trị. Nguyên nhân chính của những bất đồng này bắt nguồn từ việc Indonesia phản đối sự thành lập Liên bang Malaysia. Cuộc đối đầu quân sự giữa hai nước, được gọi là 'Confrontasi', đã làm nổi bật những mâu thuẫn này. Bài viết sẽ phân tích bối cảnh lịch sử, chính trị và các yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa hai quốc gia trong giai đoạn này.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Indonesia và Malaysia

Indonesia và Malaysia đều có lịch sử bị thực dân phương Tây đô hộ. Sau khi giành được độc lập, cả hai quốc gia đều tìm cách khẳng định vị thế của mình trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, sự khác biệt trong chính sách đối ngoại và cách tiếp cận đối với các vấn đề khu vực đã dẫn đến những bất đồng nghiêm trọng. Indonesia, dưới sự lãnh đạo của Sukarno, đã có những chính sách đối ngoại quyết liệt nhằm bảo vệ chủ quyền và ảnh hưởng của mình trong khu vực.

1.2. Nguyên nhân chính dẫn đến bất đồng chính trị

Nguyên nhân chính dẫn đến bất đồng giữa Indonesia và Malaysia là sự phản đối của Indonesia đối với việc thành lập Liên bang Malaysia vào năm 1963. Indonesia cho rằng sự hình thành này là một âm mưu của các cường quốc phương Tây nhằm kiểm soát khu vực Đông Nam Á. Sự khác biệt trong quan điểm về vai trò lãnh đạo khu vực cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến căng thẳng giữa hai nước.

II. Những thách thức trong quan hệ Indonesia Malaysia giai đoạn 1957 1965

Mối quan hệ giữa Indonesia và Malaysia trong giai đoạn này không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại mà còn bởi bối cảnh quốc tế. Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một môi trường chính trị phức tạp, trong đó các cường quốc lớn như Mỹ và Liên Xô có những tác động mạnh mẽ đến chính sách đối ngoại của cả hai quốc gia. Những thách thức này đã làm gia tăng sự căng thẳng và bất đồng giữa Indonesia và Malaysia.

2.1. Tác động của Chiến tranh Lạnh đến quan hệ hai nước

Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một bối cảnh chính trị căng thẳng, trong đó Indonesia và Malaysia phải đối mặt với áp lực từ các cường quốc lớn. Indonesia, với chính sách đối ngoại không liên kết, đã tìm cách khẳng định vai trò lãnh đạo trong khu vực, trong khi Malaysia lại nhận được sự hỗ trợ từ các nước phương Tây. Điều này đã dẫn đến những bất đồng sâu sắc trong quan hệ giữa hai quốc gia.

2.2. Những cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự

Giai đoạn 1963-1965 chứng kiến những cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự nghiêm trọng giữa Indonesia và Malaysia. Cuộc đối đầu quân sự, được gọi là 'Confrontasi', đã diễn ra với nhiều cuộc xung đột vũ trang tại biên giới. Những sự kiện này không chỉ làm gia tăng căng thẳng giữa hai nước mà còn ảnh hưởng đến an ninh khu vực Đông Nam Á.

III. Phân tích cuộc đối đầu quân sự giữa Indonesia và Malaysia

Cuộc đối đầu quân sự giữa Indonesia và Malaysia trong giai đoạn 1963-1965 là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử quan hệ hai nước. Cuộc xung đột này không chỉ phản ánh những bất đồng chính trị mà còn là biểu hiện của sự cạnh tranh quyền lực trong khu vực. Bài viết sẽ phân tích các diễn biến chính của cuộc đối đầu này và những tác động của nó đến quan hệ quốc tế.

3.1. Diễn biến chính của cuộc đối đầu quân sự

Cuộc đối đầu quân sự giữa Indonesia và Malaysia bắt đầu vào năm 1963 với các cuộc tấn công của quân đội Indonesia vào lãnh thổ Malaysia. Những cuộc xung đột này đã diễn ra chủ yếu tại các khu vực biên giới như Sarawak và Sabah. Sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài cũng đã làm gia tăng tính chất phức tạp của cuộc xung đột.

3.2. Kết quả và hệ quả của cuộc đối đầu

Cuộc đối đầu quân sự đã dẫn đến những tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Indonesia, mặc dù có lực lượng quân sự mạnh, nhưng đã không đạt được mục tiêu chính trị của mình. Malaysia, với sự hỗ trợ từ các cường quốc phương Tây, đã củng cố được vị thế của mình trong khu vực. Hệ quả của cuộc đối đầu này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ hai nước mà còn tác động đến an ninh khu vực Đông Nam Á.

IV. Giải pháp và phương pháp bình thường hóa quan hệ Indonesia Malaysia

Sau giai đoạn căng thẳng, việc bình thường hóa quan hệ giữa Indonesia và Malaysia trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Các giải pháp và phương pháp được áp dụng nhằm khôi phục lại mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia. Bài viết sẽ phân tích các bước đi quan trọng trong quá trình này.

4.1. Các cuộc đàm phán và thỏa thuận

Các cuộc đàm phán giữa Indonesia và Malaysia đã diễn ra nhằm tìm kiếm giải pháp cho những bất đồng. Những thỏa thuận được ký kết đã giúp giảm bớt căng thẳng và tạo điều kiện cho việc khôi phục quan hệ ngoại giao. Sự tham gia của các tổ chức quốc tế cũng đã góp phần quan trọng trong quá trình này.

4.2. Tác động của ASEAN đến quan hệ hai nước

Sự hình thành của ASEAN vào cuối những năm 1960 đã tạo ra một khung hợp tác mới cho các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Indonesia và Malaysia. ASEAN đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa hai nước, giúp giảm bớt những bất đồng và xây dựng lòng tin.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quan hệ Indonesia Malaysia

Mối quan hệ giữa Indonesia và Malaysia trong giai đoạn 1957-1965 đã trải qua nhiều thăng trầm. Những bất đồng chính trị và quân sự đã để lại nhiều bài học quý giá cho cả hai quốc gia. Việc hiểu rõ những nguyên nhân và hệ quả của những bất đồng này sẽ giúp định hình chính sách đối ngoại của Indonesia và Malaysia trong tương lai.

5.1. Bài học từ quá khứ

Những bất đồng chính trị giữa Indonesia và Malaysia trong giai đoạn này đã cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì đối thoại và hợp tác trong khu vực. Các bài học từ quá khứ có thể giúp hai quốc gia này tránh được những xung đột tương tự trong tương lai.

5.2. Triển vọng hợp tác trong tương lai

Với sự phát triển của ASEAN và các cơ chế hợp tác khu vực khác, triển vọng hợp tác giữa Indonesia và Malaysia trong tương lai là rất khả quan. Cả hai quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp để đảm bảo an ninh và phát triển bền vững trong khu vực Đông Nam Á.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ indonesia và malaysia giai đoạn 1957 1965 những bất đồng chính trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa Indonesia và Malaysia giai đoạn 1957-1965 Chương 2: Những bất đồng chính trị giữa Indoneisa – Malaysia giai đoạn 1957 - 1965 Chương 3. Tác động của bất đồng chính trị giữa Indonesia – Malaysia đối với bản thân mỗi quốc gia và khu vực Đông Nam Á 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI MỐI QUAN HỆ GIỮA INDONESIA VÀ MALAYSIA GIAI ĐOẠN 1957-1965 Sau Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945 tình hình thế giới có nhiều thay đổi. Giữa bối cảnh một châu Âu bị tàn phá và suy yếu thì Mỹ và Liên Xô nổi lên với vai trò là siêu cường thế giới, giàu có và hùng mạnh. Những quyết định của Hội nghị cấp cao Ianta2 tháng 2 năm 1945 đã trở thành những khuôn khổ của “Trật tự thế giới mới” [17;234].

Trong “Trật tự thế giới mới” đã diễn ra một cuộc đối đầu gay gắt giữa một bên là phe Xã hội Chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và bên kia là phe Tư bản chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo. Với hai ý thức hệ đối lập, hai quốc gia này đã đứng trên hai chiến tuyến trái ngược nhau, luôn đấu tranh không khoan nhượng, làm cho tình hình thế giới có lúc căng thẳng. Tuy không nổ ra cuộc chiến tranh trực tiếp từ hai siêu cường, nhưng mâu thuẫn và đối đầu luôn diễn ra trên các vấn đề chính trị, ngoại giao, kinh 2 Hội nghị Ianta còn được gọi là Hội nghị Crime với sự tham gia của 3 cường quốc: Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh. Hội nghị họp từ ngày 4 -11/2/1945 tại cung điện Livadia (Liên Xô).

Đây là hợp tác quân sự để giải quyết những bất đồng giữa ba cường quốc thắng trục phát xít và buộc Đức đầu hàng vô điều kiện, tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, đưa ra chính sách với Đức cũng như với các nước được giải phóng khi cục diện Chiến tranh thế giới thứ hai đã ngã ngũ. Sự kiện này cũng dẫn đến việc hình thành trật tự lưỡng cực Ianta, đó là việc phân chia khu vực ảnh hưởng giữa các nước lớn của phe đồng minh tại hội nghị. Nội dung của hội nghị về việc kết thúc chiến tranh. Ba cường quốc thống nhất mục đích tiêu diệt tận gốc Chủ nghĩa phát xít Đức và Chủ nghĩa quân phiệt Nhật, Liên Xô sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật tại châu Á.

Hội nghị thông qua các quyết định phân chia ảnh hưởng của hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ. Trật tự lưỡng cực Ianta đã góp phần hình thành hai hệ thống xã hội đối lập: Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cuộc đối đầu giữa hai siêu cường thời này được gọi là “Chiến tranh lạnh” và có tác động to lớn đến quan hệ quốc tế, tình hình chính trị của từng nước, từng khu vực.

Nằm trong khu vực Đông Nam Á, những bất đồng mâu thuẫn của Indonesia - Malaysia cũng chịu tác động sâu sắc từ bối cảnh quốc tế trên. Bối cảnh quốc tế 1. Chiến tranh lạnh và sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu “Chiến tranh lạnh” được hiểu là thời kì căng thẳng về mặt chính trị và quân sự giữa Mỹ và Liên Xô. Yếu tố “chiến tranh” ở đây thể hiện sự đối đầu sâu sắc về mặt quyền lực và ý thức hệ giữa hai nước; trong đó “lạnh” phản ánh việc Liên Xô và Mỹ không sử dụng vũ khí “nóng” trong mối quan hệ kình địch này, mà thay vào đó là cuộc chạy đua vũ trang, nổi bật nhất là vũ khí hạt nhân.

Trên thực tế, “Chiến tranh lạnh” là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tồn tại hệ thống lưỡng cực mà Mỹ và Liên Xô là đại diện và mâu thuẫn giữa hai nước cũng đại diện cho mâu thuẫn giữa hai hệ tư tưởng Tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu và Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô khởi xướng. Do đó, “Chiến tranh lạnh” đã tác động toàn diện tới tất cá các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia khi mà các nước tự xác định con đường đi của mình dựa trên sự hình thành ý thức hệ. Trong bối cảnh này, hai quốc gia mạnh nhất là Liên Xô và Mỹ đã gia tăng tranh giành khu vực ảnh hưởng trên thế giới. Đặc biệt là cả hai nước đều tập trung gây ảnh hưởng lên các nước thế giới thứ ba.3 Quá trình phi thực dân hóa diễn ra trong những năm 50, 60 của thế kỉ XX với kết quả là các quốc gia mới giành được độc lập đã nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của hai siêu cường.

Mỹ 3 Về nguồn gốc thuật ngữ “Thế giới thứ ba” dùng để chỉ các nước không thuộc thế giới phương Tây, cũng không thuộc hệ thống Xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh lạnh. Những nước này tham gia phong trào không liên kết thành lập năm 1955 sau Hội nghị Bangdung (Indonesia). Thuật ngữ “Thế giới thứ ba” dần có sự biết đổi về ngữ nghĩa phạm vi áp dụng và trong nhiều trường hợp đồng nhất với các quốc gia chậm phát triển (underdevelopment) hay đang phát triển (developing countries). Hiện nay thuật ngữ “thế giới thứ ba” hay “quốc gia chậm phát triển” không còn được áp dụng phổ biến.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và Liên Xô quyết liệt tranh giành ảnh hưởng tại những quốc gia này như một cách tăng cường sức mạnh ra ngoài các khu vực ảnh hưởng truyền thống. Vì vậy, Đông Nam Á cũng là một trong những khu vực mà Liên Xô và Mỹ đều muốn tranh giành ảnh hưởng. “Chiến tranh lạnh” là một cuộc đối đầu hết sức căng thẳng giữa hai bên. Năm 1946, lãnh tụ của Liên Xô khi đó là Joseph Stalin khẳng định sự thành công của Chủ nghĩa cộng sản với việc Liên Xô đã lôi kéo được các quốc gia Đông Âu đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa của mình.

Mỹ và các nước đồng minh ngay lập tức bác bỏ tuyên bố trên và đã tiến hành các biện pháp nhằm ngăn chặn Chủ nghĩa cộng sản. Trong những năm 1947 - 1949, Mỹ thực hiện “Chính sách ngăn chặn”. Chính sách này được đề ra dựa trên những kết luận của Kenna một chuyên gia về Liên Xô của Mỹ cho rằng, sau chiến tranh Liên Xô bị suy yếu, kiệt quệ cả về vật chất lẫn tinh thần, chỉ cần đặt trước Liên Xô một lực lượng mạnh mẽ thì chỉ trong thời gian từ 10 đến 15 năm, Liên Xô sẽ bị tiêu diệt và sẽ ngăn chặn được Chủ nghĩa cộng sản mở rộng ảnh hưởng trên thế giới. Kenna chủ trương “ngăn chặn lâu dài”, ngăn chặn một cách kiên trì nhưng phải cứng rắn và cảnh giác trước những khuynh hướng mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô, điều đó phải là một nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới bất cứ chính sách nào của Mỹ đối với Liên Xô.

Ở Đức cũng như ở Triều tiên, Mỹ không chỉ muốn “ngăn chặn” sự “bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản” mà còn muốn cấu kết, nâng đỡ các thế lực phản động ở hai nước này để tiến tới tiêu diệt lực lượng cách mạng và xâm lược, thống trị toàn nước Đức và Triều Tiên. Trung Quốc là nơi mà Mỹ đã bỏ công sức nhiều nhất hi vọng rằng sẽ tiêu diệt lực lượng cách mạng và đặt được nền thống trị ở lục địa này. Để tiến thêm một bước nữa trong việc thực hiện âm mưu thống trị thế giới và chống lại các nước Xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào giải phóng dân tộc, Mỹ tiến hành thành lập các khối quân sự nhằm tập hợp các lực lượng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phản cách mạng đặt dưới sự chỉ huy của Mỹ để bao vây Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu và các nước có cao trào giải phóng dân tộc. Bước đầu tiên trên con đường xây dựng các khối quân sự xâm lược là “Hiệp định phòng thủ Tây bán cầu” kí giữa Mỹ và các nước đồng minh năm 1947.

Đến năm 1949, Mỹ đứng ra thành lập Tổ chức hiệp ước Bắc Đại tây dương viết tắt NATO4. Thực chất khối NATO là một công cụ của chính sách bành trướng xâm lược của Mỹ. Vì thế ngay sau khi khối NATO được thành lập, những mâu thuẫn nội bộ đã thể hiện rõ rệt; Anh và Mỹ tranh giành nhau quyền lãnh đạo và ảnh hưởng trong khối NATO. Sau khi vươn lên Pháp và Tây Đức cũng đấu tranh gay gắt đòi Mỹ chia sẻ quyền lãnh đạo.

Năm 1954, sau khi chia cắt Đức và thành lập nước Cộng hoà liên bang Đức, Mỹ và các nước phương Tây đã kí hiệp ước Pari nhằm vũ trang lại Tây Đức và đưa Tây Đức vào khối quân sự NATO, biến Tây Đức thành “một lực lượng xung kích” chống lại Cộng hoà dân chủ Đức, Liên Xô và các nước Đông Âu Xã hội chủ nghĩa. Mỹ tiếp tục thành lập các khối liên minh quân sự ở các khu vực khác nhằm hỗ trợ cho khối NATO và bao vây Liên Xô, các nước Xã hội chủ nghĩa như Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật (9/1951), Khối ANZUS, Khối SEATO ở Đông Nam Á (9/1954), khối CENTO ở Trung Cận Đông (1959). Mỹ thiết lập hàng nghìn căn cứ quân sự, đưa hàng chục vạn quân Mỹ đóng rải rắc khắp mọi nơi. Phía Liên Xô cũng đưa hàng chục vạn quân ra đóng ở các nước Đông Âu (tập trung Đông Đức), ở Mông Cổ và biên giới Xô – Trung [68].

4 NATO là tên viết tắt của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tiếng Anh: North Atlantic Treaty Organization). Đây là một liên minh quân sự được thành lập năm 1949 bao gồm Mỹ và một số nước châu Âu. Trụ sở chính đặt tại Brusels, Bỉ. NATO là khối quân sự - chính trị lớn nhất thế giới, liên kết phần lớn các nước châu Âu, Hoa Kỳ và Canada.

Các nước thành viên NATO gồm: Bỉ, Anh, Đan Mạch, Iceland (không có lực lượng của vũ trang), Italia, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Mỹ, Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức, Tây Ban Nha (không tham gia trong cơ cấu quân sự của khối) Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Bulgaria, Lithuania, Latvia, Estonia, Romania, Slovakia, Slovenia, Albania, Croatia. Một trong những mục tiêu tuyên bố của NATO là để kiềm chế bất kỳ hình thức xâm lược lãnh thổ nào chống lại bất kỳ quốc gia thành viên NATO hoặc bảo vệ các thành viên đó. Các cơ quan chính trị cao nhất của NATO là Hội đồng Bắc Đại Tây Dương (Hội đồng NATO), trong đó bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, có nhiệm vụ tiến hành các phiên họp dưới sự chủ trì của Tổng thư ký NATO. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ