Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên báo phụ nữ thủ đô báo phụ nữ thành phố hồ chí minh năm 2015 2016

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên báo phụ nữ thủ đô báo phụ nữ thành phố hồ chí, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

148
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

0.3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài

0.7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐƯỢC VẬN DỤNG CHO NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG

1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.2. Quan điểm đường lối chính sách của Đảng về bình đẳng giới, tuyên truyền về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới

1.3. Quan điểm, đường lối của Đảng về bình đẳng giới

1.4. Về công tác truyền thông về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới

1.5. Vấn đề bình đẳng giới và bất bình đẳng giới trong gia đình hiện nay

1.6. Đặc điểm của báo in, vai trò của báo in trong truyền thông về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới

1.7. Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu

1.7.1. Báo chí truyền thông

1.7.2. Xã hội học truyền thông đại chúng

1.7.3. Xã hội học gia đình

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH PHẢN ÁNH TRÊN BÁO PNTĐ, BÁO PNTP HCM NĂM 2015 - 2016

2.1. Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng gia đình

2.2. Thông điệp bất bình đẳng trong chức năng kinh tế

2.3. Thông điệp bất bình đẳng giới trong đời sống tình dục và chức năng sinh con

2.4. Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng xã hội hóa

2.5. Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng an sinh gia đình

2.6. Thông điệp bất bình đẳng trong các mối quan hệ gia đình

2.6.1. Thông điệp bất bình đẳng trong quan hệ vợ - chồng

2.6.2. Thông điệp bất bình đẳng trong quan hệ cha mẹ - con cái

2.6.3. Thông điệp bất bình đẳng trong mối quan hệ ông bà - cháu

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC THỂ HIỆN THÔNG ĐIỆP BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO PNTĐ VÀ BÁO PNTPHCM NĂM 2015 - 2016

3.1. Đặc điểm chung về cách đưa tin bài của báo PNTĐ và Báo PNTPHCM

3.2. Tít bài báo và nguồn đăng tải

3.3. Nguồn đăng tải

3.4. Thể loại, hình thức, chuyên mục đăng tải

3.5. Hình thức tổ chức thông tin

3.6. Chuyên mục đăng tải

3.7. Ngôn ngữ và hình ảnh trong bài viết

3.7.1. Ngôn ngữ bài viết

3.7.2. Hình ảnh trong bài viết

3.8. Thời gian đăng tải

3.9. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA THÔNG ĐIỆP CHỐNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG GIA ĐÌNH TRÊN BÁO PNTĐ VÀ BÁO PNTPHCM

4.1. Giải pháp chung cho báo PNTĐ và báo PNTPHCM

4.2. Về cách thức làm việc của tòa soạn

4.3. Tạo điều kiện cho các phóng viên, nhà báo, biên tập viên viết về lĩnh vực gia đình được nâng cao kiến thức chuyên môn

4.4. Về nội dung và hình thức đưa tin

4.5. Giải pháp đối phóng viên, nhà báo, biên tập viên

4.6. Cần nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức, kỹ năng làm việc thường xuyên

4.7. Nâng cao đạo đức nghề nghiệp

4.8. Tiểu kết chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bất Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình 2015 2016

Bất bình đẳng giới trong gia đình là một vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của đời sống. Năm 2015-2016, báo Phụ nữ Thủ đô và báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đã phản ánh nhiều thông điệp về vấn đề này. Các bài viết đã chỉ ra rằng bất bình đẳng giới không chỉ tồn tại trong các mối quan hệ gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái vẫn phổ biến, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về bình đẳng giới.

1.1. Khái Niệm Bất Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

Bất bình đẳng giới trong gia đình thường được hiểu là sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong các vai trò và trách nhiệm. Điều này thể hiện qua việc phân chia công việc nhà, quyền quyết định và quyền lợi trong gia đình. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ thường phải gánh vác nhiều công việc không được trả lương, trong khi nam giới thường được ưu tiên hơn trong các quyết định quan trọng.

1.2. Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới Tại Việt Nam

Tình trạng bất bình đẳng giới tại Việt Nam vẫn còn tồn tại, đặc biệt trong các gia đình. Theo báo cáo của Chính phủ, mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng thực tế vẫn có nhiều rào cản đối với phụ nữ trong việc tiếp cận quyền lợi và tài nguyên. Phụ nữ thường phải đối mặt với bạo lực gia đình và các hình thức phân biệt khác, điều này cần được giải quyết một cách nghiêm túc.

II. Vấn Đề Bất Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình Thách Thức Và Giải Pháp

Bất bình đẳng giới trong gia đình không chỉ là một vấn đề cá nhân mà còn là một thách thức lớn đối với xã hội. Các thách thức này bao gồm sự thiếu nhận thức về bình đẳng giới, định kiến giới và các chính sách chưa hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng.

2.1. Thách Thức Trong Việc Đạt Được Bình Đẳng Giới

Một trong những thách thức lớn nhất là sự tồn tại của các định kiến giới trong xã hội. Nhiều người vẫn cho rằng công việc gia đình là trách nhiệm của phụ nữ, trong khi nam giới được coi là trụ cột chính. Điều này dẫn đến việc phụ nữ không được công nhận và đánh giá đúng mức trong các vai trò của họ.

2.2. Giải Pháp Để Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới

Để xóa bỏ bất bình đẳng giới, cần có các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong gia đình. Các chính sách cần được thực hiện đồng bộ, từ việc thay đổi nhận thức đến việc tạo ra các cơ hội bình đẳng cho cả nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Về Bất Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

Nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong gia đình cần áp dụng các phương pháp đa dạng để thu thập thông tin chính xác. Các phương pháp này bao gồm khảo sát, phỏng vấn và phân tích nội dung từ các bài viết trên báo. Việc sử dụng nhiều phương pháp sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

3.1. Phương Pháp Khảo Sát

Khảo sát là một trong những phương pháp hiệu quả để thu thập dữ liệu về nhận thức và hành vi của người dân về bất bình đẳng giới. Các câu hỏi trong khảo sát cần được thiết kế rõ ràng và dễ hiểu để thu hút sự tham gia của người dân.

3.2. Phân Tích Nội Dung Bài Viết

Phân tích nội dung các bài viết trên báo Phụ nữ Thủ đô và báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp xác định các thông điệp chính về bất bình đẳng giới. Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách mà báo chí phản ánh vấn đề mà còn giúp phát hiện các khuôn mẫu và định kiến giới trong truyền thông.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Bất Bình Đẳng Giới

Nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong gia đình không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn quan trọng. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình giáo dục, chính sách hỗ trợ và các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới.

4.1. Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục

Các chương trình giáo dục về bình đẳng giới cần được triển khai từ cấp tiểu học đến đại học. Nội dung chương trình cần tập trung vào việc thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh, sinh viên về vai trò của nam và nữ trong gia đình và xã hội.

4.2. Chính Sách Hỗ Trợ Phụ Nữ

Cần có các chính sách hỗ trợ phụ nữ trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội. Điều này bao gồm việc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội, từ đó nâng cao vị thế của họ trong gia đình và cộng đồng.

V. Kết Luận Tương Lai Của Bất Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

Bất bình đẳng giới trong gia đình là một vấn đề cần được giải quyết một cách nghiêm túc. Tương lai của bình đẳng giới phụ thuộc vào sự nỗ lực của toàn xã hội trong việc thay đổi nhận thức và hành vi. Các chính sách và chương trình cần được thực hiện đồng bộ để đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nhận Thức

Nhận thức về bình đẳng giới cần được nâng cao trong mọi tầng lớp xã hội. Việc thay đổi nhận thức sẽ giúp xóa bỏ các định kiến và tạo ra một môi trường bình đẳng hơn cho cả nam và nữ.

5.2. Hướng Đi Tương Lai

Tương lai của bình đẳng giới trong gia đình sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Cần có những nỗ lực liên tục để đảm bảo rằng mọi người đều được đối xử công bằng và có cơ hội phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên báo phụ nữ thủ đô báo phụ nữ thành phố hồ chí minh năm 2015 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một trong những quốc gia đ u tiên trên thế giới k kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền tr em và việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình được coi là một bước tiến bộ lớn tạo điều kiện về mặt pháp l để nâng cao vị tr và vai tr của người phụ nữ trong gia đình. Tuy nhiên thực hiện bình đẳng giới (BĐG) không dễ dàng. Bởi một bộ phận xã hội vẫn hiểu không đúng về bất bình đẳng giới, và những nhận thức mang tính định kiến giới, coi trọng con trai hơn con gái mặc định công việc gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ… vẫn còn tồn tại nặng nề, tình trạng bạo lực gia đình vẫn tiếp tục gia tăng gây bất ổn cho xã hội.

Báo cáo tóm tắt tình hình giới của Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho thấy “mặc dù có một môi trường chính sách thuận lợi nhưng phân biệt đối xử với phụ nữ và tr em gái vẫn phổ biến ở Việt Nam. Vẫn có tình trạng phá bỏ thai nhi nữ do sự ưu tiên có con trai phụ nữ và tr em gái bị phân biệt đối xử trong suốt cuộc đời. Phụ nữ có quyền lực hạn chế trong nhiều lĩnh vực của đời sống, kể cả trong đời sống cá nhân và trong đời sống xã hội… Họ vẫn phải đối mặt với những rào cản trong việc tiếp cận và kiểm soát đất đai cũng như các tài sản khác, dịch vụ tài chính, tài sản thừa kế và tài nguyên thiên nhiên. Giống như ở nhiều nước khác, phụ nữ và tr em gái Việt Nam vẫn là người mang gánh nặng chính của những công việc chăm sóc không được trả lương và việc nhà.

Họ cũng bị bạo lực dưới nhiều hình thức khác nhau” [1]. Bình đẳng giới là động lực và mục tiêu phát triển quốc gia và để thực hiện được mục tiêu này, rất c n đến sự phối hợp của nhiều nhân tố, trong đó thông tin, giáo dục nâng cao nhận thức về BĐG thực hiện xóa bỏ bất BĐG quan trọng. Với tư cách là một thiết chế của xã hội nêngia đình cũng phản ánh các vấn đề của xã hội.Nhận thức của các thế hệ đi trước trong gia đình về giới và BĐG sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của các thế hệ sau. Khi những định kiến giới tồn tại trong cuộc sống gia đình nó sẽ được thể hiện cụ thể thông qua các hành 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi chăm sóc giáo dục tr của cha mẹ.Ngược lại, khi các thế hệ trước nhận thức đúng đắn về bất BĐG, xóa bỏ định kiến giới thì họ sẽ truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp những nhận thức đúng đắn.

Hiện nay, việc xóa bỏ bất BĐG trong gia đình vẫn là một cuộc chiến gian nan nhiều thách thức. Theo Báo cáo g n đây nhất của Chính phủ về kết quả thực hiện Chương trình quốc gia về BĐG trong giai đoạn 2011-2015 đã thừa nhận tiến độ BĐG ở Việt Nam vẫn còn chậm chạp đôi khi c n trì trệ, hoặc thậm chí là thụt lùi trong một số lĩnh vực. Báo cáo Khoảng cách giới toàn c u năm 2014 Việt Nam đã tụt hạng từ thứ 42 năm 2007 xuống thứ 76 năm 2014. Xuất phát từ thực tiễn đó việc thông tin định hướng nhận thức cho cộng đồng xóa bỏ bất BĐG trong gia đình là rất c n thiết, trong đó truyền thông đại chúng (TTĐC) là một kênh rất quan trọng.

Bên cạnh báo điện tử, truyền hình, phát thanh, báo in được xem là một kênh truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về việc phòng chống bất BĐG trong các mối quan hệ gia đình xóa bỏ những định kiến giới trong vai trò của nam giới và phụ nữ, phòng chống bạo lực gia đình v.Bởi báo in là một trong những thể loại của báo chí có những thế mạnh khác biệt so với các loại hình báo ch khác như: Thứ nhất, khả năng lưu trữ thông tin cao, nhất là lưu trữ bằng tr não. Khi người đọc tiếp nhận thông tin qua mắt nhưng đồng thời với đó là tr não hoạt động, tập trung mọi nghĩ vào trong tờ báo để tiếp nhận thông tin rất hiệu quả. Khi người đọc tiếp nhận một thông tin từ báo in, họ có thể truyền tải lại thông ấy một cách chi tiết, cụ thể sinh động cho người khác nghe qua những cử chỉ điệu bộ của mình để thu hút sự lắng nghe, quan tâm của người khác. Điều này là hơn hẳn với các loại hình báo chí khác.

Thứ hai, báo in có khả năng phân t ch bình luận, lý giải sâu rộng về các vấn đề, sự kiện. Đây là một thế mạnh mà có thể nói đặc trưng nhất của báo in mà đến nay không loại hình báo chí nào có thể làm được điều này, kể cả báo mạng điện tử. Chính lợi thế này nó đã giúp báo in đứng vững và cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây ch nh là l do mà tác giả chọn báo in làm kênh nghiên cứu của mình và cụ thể là hai tờ báo in: báo Phụ nữ Thủ đô (PNTĐ) và báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh (PNTPHCM).

Bên cạnh việc truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng về thực hiện BĐG ph ng chống bất BĐG trong gia đình thì cách xử lý thông tin của truyền thông (báo in)khi đề cập vấn đề giới vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều khuôn mẫu giới định kiến giới vẫn vô tình được phản ánh trong các tác phẩm báo chí, trong các câu hỏi, lời bình, dẫn dắt của một số nhà báo. Điều này khiến cho việc truyền thông về bình đẳng giới vẫn còn hạn chế, góp ph n làm cho tiến trình thực hiện BĐG bị chậm lại ngăn cản sự phát triển của gia đình nói riêng và xã hội nói chung. Vì thế đề tài nghiên cứu "Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên Báo Phụ nữ Thủ đô, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 - 2016 là một cố gắng để ph n nào đóng góp vào nỗ lực chung nhằm tìm ra giải pháp cho việc truyền thông về vấn đề BĐG trong gia đình có hiệu quả hơn trên báo PNTĐ báo PNTPHCM nói riêng và báo in nói chung.

Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn do có giới hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ph n thông điệp bất bình đẳng giới trong gia đình thông qua các chức năng gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM từ năm 2015-2016. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2. i n t nghiên c u tru ền thông đ i ch ng 2. Ngoài nước Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu truyền thông được chia làm bốn giai đoạn: Giai đoạn đ u được đánh dấu từ Thế kỷ XX tới năm 30 của Thế kỷ XX: Giai đoạn hai khoảng những năm 50 - 60 của Thế kỷ XX; Giai đoạn ba bắt đ u từ những năm 60 của Thế kỷ XX và cho tới khi kết thúc Thế kỷ XX; Giai đoạn bốn bắt đ u từ Thế kỷ XXI đến nay.

Giai đoạn thứ nhất, vào giai đoạn này những người thuộc trường phái Frankfurt của Đức cho rằng truyền thông đại chúng đặc biệt ở Mỹ đã biến các cá nhân thành những khối đại chúng, làm tan rã những khối xã hội truyền thống. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Câu hỏi lớn được đặt ra cho giới nghiên cứu lúc bấy giờ là vai trò và t m quan trọng của truyền thông đại chúng đối với xã hội như thế nào? Định nghĩa của Harold Laswell về truyền thông đại chúng đúc kết trong câu nói nhiều người biết đến “Ai nói cái gì bằng kênh nào với ai với hiệu ứng thế nào” (who says what in which channel to whom with what effect) là một trong những vấn đề được thảo luận sôi nổi trong thời kỳ này. Nhiều nhà nghiên cứu trong giai đoạn này thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh khả năng tác động trực tiếp của truyền thông đến công chúng. Hiệu ứng của truyền thông trong giai đoạn này được xem như “mũi kim tiêm” hoặc “viên đạn th n kỳ” nghĩa là có sức mạnh vạn năng trong việc tác động đến nhận thức và hành vi của khán thính giả.

Giai đoạn thứ hai, người ta đưa ra những đánh giá bớt bi quan hơn về truyền thông đại chúng. Ở giai đoạn này, truyền thông đại chúng tác động gián tiếp thông qua nhiều bước trung gian. Trong đó bước trung gian đóng vai tr là máy lọc hay những người hướng dẫn dư luận. Do ảnh hưởng của những vấn đề chính trị (trong đó có cuộc chiến tranh lạnh), các nghiên cứu truyền thông có xu hướng phục vụ cho nhu c u của các nhà lãnh đạo nhằm đề cao hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội.

Về mặt kỹ thuật nghiên cứu điểm nổi bật trong giai đoạn này là việc tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm, tinh lọc lại các kỹ thuật điều tra dư luận bằng bảng hỏi. Đây cũng là giai đoạn phát triển các lý thuyết như Thuyết về Nhóm Tham khảo và Quá trình Truyền thông Hai bước (Two-Step Flow), Thuyết Khuếch tán (Diffusion of Innovation), Thuyết Thiết lập Chương trình Nghị sự (Agenda Setting). Cũng trong giai đoạn này, các nghiên cứu truyền thông dựa trên phương pháp định lượng trở nên phổ biến. Ở giai đoạn thứ ba, những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các nghiên cứu truyền thông thuộc trào lưu thứ hai xuất hiện.

Lúc này, chính trị và dư luận xã hội không còn là mối ưu tiên hàng đ u. Những người làm truyền thông quan tâm hơn đến các ứng dụng của truyền thông trong việc đào tạo nhân lực, cung cấp kiến thức, 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xây dựng hình ảnh thông qua đó đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế. Các nghiên cứu về hiệu quả truyền thông xác định vai trò của Người Dẫn đường Dư luận (opinion leader) và Thuyết Truyền thông Hai bước (Two - Step) được vận dụng trong truyền thông để tác động đến công chúng. Một xu hướng khác xuất hiện trong nghiên cứu truyền thông giai đoạn này là phân tích mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Mối lưu tâm ở đây không tập trung vào các phương tiện truyền thông đại chúng mà tập trung vào mạng lưới truyền thông có t nh tương tác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ