Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1. Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật bảo vệ và phát triển rừng Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, thực hiện pháp luật là giai đoạn thứ hai sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu. Bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống.
Có rất nhiều nhà khoa học về luật học đứng trên các bình diện khác nhau nghiên cứu về thực hiện pháp luật và có nhiều cách luận giải về vấn đề thực hiện pháp luật: Quan điểm thứ nhất: Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: “Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý. Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của nhà nước” [30, tr. Theo quan điểm trên thì xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật còn thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức và công dân Việt Nam, người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.
Quan điểm thứ hai: Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật của Đại học Luật Hà Nội “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích nhằm thực hiện hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống” [55, tr. 11 Quan điểm này cho thấy thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… Quan điểm thứ ba: Theo giáo trình lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: Thực hiện pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói cách khác, tất cả những hoạt động nào của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì được coi là sự thực hiện thực tế của quy phạm pháp luật [31, tr. Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã được dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình.
Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của tất cả các tổ chức và cá nhân; mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Đối với nhà nước, thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội; còn đối với các tổ chức hoặc cá nhân, thực hiện pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ. Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật. Do vậy, đây là quá trình hoạt động có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật là cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội.
Thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua nhiều hình thức và với những quy trình khác nhau. Pháp luật gồm nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, với mỗi loại quy phạm pháp luật có cách thức và quy trình thực hiện khác nhau. 12 - Khái niệm thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. - Khái niệm thực hiện pháp luật bảo vệ và phát triển rừng + Khái niệm rừng Hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học lâm nghiệp, các nhà nghiên cứu về môi trường đưa ra quan niệm khác nhau về rừng như: Quan niệm thứ nhất: của Ủy ban Môi trường thế giới cho rằng “rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu và quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn.
Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác”. Quan điểm này khái quát được rừng là quần xã sinh vật trong đó thực vật là thành phần chủ yếu và các quần xã sinh vật phải có mối quan hệ liên hệ mật thiết với nhau. Quan điểm thứ hai: rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là bộ phận của cảnh quan địa lý.
Quan điểm thứ ba: rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Như vậy, tất cả các quan điểm trên đều đi đến thống nhất với nhau cùng cho rằng rừng là tổng thể nhiều loài thực vật sống với nhau trên một đơn vị diện tích nhất định và các hệ thực vật ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau và các thành phần trong quần xã sinh vật có mối quan hệ mật thiết với nhau. Qua các quan niệm trên có thể đi đến khái niệm: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của 13 tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Theo Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các loại rừng Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. + Khái niệm bảo vệ rừng Bảo vệ rừng là thực hiện việc bảo vệ và kiểm soát một cách có hiệu quả tình trạng suy thoái rừng trên phạm vi cả nước, trong đó quy định cụ thể nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng từng loại rừng. Bên cạnh quan niệm về bảo vệ rừng trên thì theo tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cho rằng bảo vệ rừng là hoạt động đảm bảo cho quá trình kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của tổ chức, cá nhân được tuân thủ một cách nghiêm ngặt có định hướng. Vậy bảo vệ rừng là hoạt động có mục đích của tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của rừng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của rừng, góp phần phòng chắn lụt bão, chống xói mòn cho đất, điều hòa khí hậu tạo môi trường trong sạch cho con người.
Hiện nay, công tác bảo vệ rừng được quy định tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; Nghị định số 09/2006/NĐ-CP; Nghị định số 23/2006/NĐ-CP; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Nghị định số 48/2007/NĐ- CP; Nghị định số 05/2008/NĐ-CP; Nghị định số 74/2010/NĐ-CP; Nghị định số 99/2010/NĐ-CP; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP…; Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 14 Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng và các quan niệm về bảo vệ rừng của các nhà khoa học Lâm nghiệp trên chúng ta có thể đi đến khái niệm bảo vệ rừng là hoạt động của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, các nhân, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững; kết hợp bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên rừng có hiệu quả, kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng và khoanh nuôi sinh thái phục hồi, bảo vệ diện tích rừng hiện có, đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của rừng. Từ khái niệm về bảo vệ và phát triển rừng, thì có thể hiểu nội dung của bảo vệ rừng là quá trình bao gồm các hoạt động của con người nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, hoạt động bảo vệ thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi xâm hại đến quá trình phát triển của rừng như phá rừng, làm cháy rừng; lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; nhập khẩu động vật rừng, thực vật rừng trái phép, săn bắn động vật rừng; chăn thả gia súc vào rừng, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng.