Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam

Tìm hiểu pháp luật về bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư chứng khoán tập trung tại Việt Nam. Nghiên cứu các quy định, biện pháp pháp lý bảo vệ nhà đầu tư.

Trường đại học

Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ
236
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

1.1. TTCKTT và vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên thị trường

1.2. TTCKTT và các yếu tố cơ bản của thị trường

1.3. Khái quát chung về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT

1.4. Khái luận pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT

1.5. Khuôn khổ pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT

1.6. Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN TTCKTT Ở VIỆT NAM

2.1. Nội dung bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

2.2. Bảo vệ quyền tham gia thị trường của NĐT

2.3. Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của NĐT

2.4. Bảo vệ quyền thực hiện các giao dịch mua, bán chứng khoán của NĐT

2.5. Bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là cổ đông trong công ty niêm yết

2.6. Các biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư và thực tiễn áp dụng

2.6.1. Biện pháp hành chính

2.6.2. Biện pháp bồi thường thiệt hại

2.6.3. Biện pháp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp

2.6.4. Biện pháp hình sự

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN TTCKTT Ở VIỆT NAM

3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT

3.2. Hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu của nền KTTT

3.3. Hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

3.4. Hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên thị trường

3.5. Các giải pháp cụ thể

3.5.1. Hoàn thiện khung pháp lý

3.5.2. Nâng cao năng lực bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cho các chủ thể

3.6. Kết luận chương 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cách Pháp Luật Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Chứng Khoán

Thị trường chứng khoán tập trung (TTCKTT) là một định chế tài chính quan trọng, kênh huy động vốn hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. Đây là thị trường đặc thù, hoạt động theo cơ chế riêng. Sự ra đời của TTCKTT là một tất yếu khách quan. Các chủ thể tham gia bao gồm người phát hành, nhà đầu tư, người kinh doanh chứng khoán, và cơ quan quản lý. Nhà đầu tư (NĐT) đóng vai trò trung tâm. Nếu không có NĐT, thị trường không thể vận hành. TTCKTT thu hút đông đảo công chúng tham gia, kể cả những NĐT không chuyên nghiệp. Tuy nhiên, đi kèm với đó là rủi ro cao, như đầu cơ, lừa đảo, và thao túng thị trường. Do đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư là yếu tố then chốt để TTCKTT phát triển bền vững. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là thông qua công cụ luật pháp.

1.1. Đặc Điểm và Vai Trò của Thị Trường Chứng Khoán Tập Trung

TTCKTT tạo tính thanh khoản cao, cung cấp thông tin đầy đủ, qua đó hình thành giá chứng khoán hợp lý và tạo niềm tin cho công chúng. Luật Chứng khoán Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc này. Thị trường hoạt động tốt khi quyền của nhà đầu tư chứng khoán được bảo vệ. Ngược lại, thiếu minh bạch và bảo vệ sẽ dẫn đến khủng hoảng và mất niềm tin. Sự phát triển tự phát của TTCK có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước thông qua luật pháp và cơ quan giám sát là cần thiết.

1.2. Nhà Đầu Tư Chủ Thể Trung Tâm Của Thị Trường Chứng Khoán

Nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển dịch vốn, tham gia và rút khỏi thị trường. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với rủi ro cao. Rủi ro đầu tư chứng khoán luôn tiềm ẩn. Quy định bảo vệ nhà đầu tư cần phải được thực thi nghiêm ngặt. Nếu không có các NĐT hoặc các NĐT thờ ơ với thị trường thì TTCK không thể vận hành và phát triển đƣợc. Ƣu thế nổi bật của TTCK là có thể thu hút đông đảo công chúng tham gia trực tiếp đầu tƣ, kể cả những NĐT không chuyên nghiệp.

II. Thách Thức Bất Cập Trong Bảo Vệ Quyền Lợi Đầu Tư Chứng Khoán

TTCKTT ở Việt Nam còn non trẻ, định chế hỗ trợ chưa đầy đủ, kinh nghiệm quản lý và hiểu biết của công chúng còn hạn chế. Điều này tạo ra nguy cơ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán. Nguy cơ này đe dọa sự ổn định và phát triển của thị trường. Cần nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng để xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể, đặc biệt là nhà đầu tư. Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán cần được đảm bảo. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và các thành viên thị trường. Ngoài ra, cần có cơ chế giải quyết tranh chấp chứng khoán hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi có tranh chấp xảy ra.

2.1. Thiếu Hụt và Bất Cập Trong Khung Pháp Lý Hiện Hành

Trong những năm đầu, các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực CK và TTCK chỉ là những văn bản dƣới luật. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng và thực thi pháp luật. Luật chứng khoán Việt Nam đánh dấu một bước phát triển quan trọng, khắc phục những khiếm khuyết, bất cập trong các văn bản pháp luật cũ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

2.2. Năng Lực Quản Lý và Giám Sát Thị Trường Chứng Khoán Còn Hạn Chế

Sự hiểu biết về TTCK và kinh nghiệm của các nhà quản lý thị trƣờng cũng nhƣ của công chúng đầu tƣ còn rất hạn chế. Điều này tạo ra những lỗ hổng trong quản lý và giám sát thị trường. Ủy ban chứng khoán nhà nước (SSC) cần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động để đảm bảo thị trường hoạt động an toàn, minh bạch và hiệu quả.

2.3. Thực Thi Pháp Luật Chứng Khoán Còn Nhiều Thách Thức

Các biện pháp xử lý vi phạm chưa đủ mạnh để răn đe. Cơ chế bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư còn phức tạp và khó thực hiện. Cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn để đảm bảo thực thi pháp luật chứng khoán một cách nghiêm minh và hiệu quả.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Bảo Vệ Quyền Nhà Đầu Tư

Để cải thiện khung pháp lý chứng khoán, cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo tính đồng bộ, rõ ràng và khả thi. Đồng thời, cần xây dựng các quy định mới để điều chỉnh các hoạt động mới trên thị trường, như chứng khoán phái sinh. Nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là nhà đầu tư. Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao kiến thức và kỹ năng cho nhà đầu tư. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chứng khoán và TTCK.

3.1. Rà Soát và Sửa Đổi Luật Chứng Khoán và Các Văn Bản Hướng Dẫn

Cần đảm bảo tính đồng bộ với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Cần bổ sung các quy định về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số. Cần tăng cường chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Giám Sát và Thanh Tra của UBCKNN

Đầu tư vào công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả giám sát. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng khác trong việc phát hiện và xử lý vi phạm. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao.

3.3. Tăng Cường Công Tác Tuyên Truyền và Phổ Biến Pháp Luật

Sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau để tiếp cận đến đông đảo công chúng. Phối hợp với các phương tiện truyền thông để đưa tin kịp thời về các hoạt động của thị trường. Tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để giải đáp thắc mắc cho nhà đầu tư.

IV. Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Chứng Khoán Hướng Dẫn Chi Tiết

Một cơ chế giải quyết tranh chấp chứng khoán hiệu quả là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Cần đa dạng hóa các hình thức giải quyết tranh chấp, như hòa giải, trọng tài, và tòa án. Bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư cần được thực hiện nhanh chóng và công bằng. Cần có quy trình rõ ràng và minh bạch để giải quyết tranh chấp. Cần có sự tham gia của các chuyên gia pháp lý và tài chính trong quá trình giải quyết tranh chấp.

4.1. Đa Dạng Hóa Các Hình Thức Giải Quyết Tranh Chấp

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp đơn giản và nhanh chóng. Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp linh hoạt và hiệu quả. Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp cuối cùng, đảm bảo tính pháp lý cao.

4.2. Quy Trình Giải Quyết Tranh Chấp Cần Rõ Ràng và Minh Bạch

Cần có quy trình tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại. Cần có quy trình điều tra và xác minh thông tin. Cần có quy trình xét xử và thi hành án.

4.3. Vai Trò của Chuyên Gia Pháp Lý và Tài Chính trong Giải Quyết Tranh Chấp

Chuyên gia pháp lý giúp nhà đầu tư hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Chuyên gia tài chính giúp nhà đầu tư đánh giá thiệt hại và đưa ra yêu cầu bồi thường hợp lý.

V. Ứng Dụng Đạo Đức Nghề Nghiệp Quản Trị Công Ty Niêm Yết

Đạo đức nghề nghiệp trong ngành chứng khoán đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư. Các công ty chứng khoán và chuyên gia tư vấn cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc đạo đức. Quản trị công ty niêm yết minh bạch và hiệu quả cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi của cổ đông. Báo cáo tài chính cần trung thực, chính xác và được kiểm toán độc lập. Cần công khai thông tin bất thường kịp thời để nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đúng đắn.

5.1. Nâng Cao Tiêu Chuẩn Đạo Đức Cho Người Hành Nghề Chứng Khoán

Xây dựng quy tắc ứng xử nghề nghiệp rõ ràng. Tăng cường đào tạo về đạo đức nghề nghiệp. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức.

5.2. Hoàn Thiện Quy Định Về Quản Trị Công Ty Niêm Yết

Tăng cường quyền của cổ đông thiểu số. Nâng cao trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Đảm bảo tính độc lập của Ban kiểm soát.

5.3. Đảm Bảo Minh Bạch Thông Tin Tài Chính Của Công Ty Niêm Yết

Báo cáo tài chính cần tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế. Kiểm toán độc lập cần đảm bảo tính khách quan và trung thực. Công khai thông tin bất thường kịp thời.

VI. Tương Lai Phát Triển Bền Vững Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Toàn Diện

Bảo vệ quyền và lợi ích nhà đầu tư là yếu tố then chốt để phát triển thị trường chứng khoán mới nổi bền vững. Cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực quản lý và giám sát, và tăng cường ý thức tuân thủ pháp luật của các thành viên thị trường. Hiệu quả bảo vệ nhà đầu tư cần được đánh giá thường xuyên để có những điều chỉnh phù hợp. Cần tạo điều kiện để nhà đầu tư tiếp cận thông tin dễ dàng và được tư vấn chuyên nghiệp. Phát triển các sản phẩm đầu tư đa dạng, phù hợp với khẩu vị rủi ro của từng nhà đầu tư.

6.1. Xây Dựng Thị Trường Chứng Khoán Chuyên Nghiệp và Minh Bạch

Áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quản lý và điều hành thị trường. Thu hút các nhà đầu tư tổ chức lớn tham gia thị trường. Phát triển các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro.

6.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Trong Lĩnh Vực Chứng Khoán

Trao đổi kinh nghiệm với các nước phát triển về bảo vệ nhà đầu tư. Tham gia các tổ chức quốc tế về chứng khoán. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán.

6.3. Phát Triển Các Sản Phẩm Đầu Tư Phù Hợp Với Khẩu Vị Rủi Ro

Phát triển các quỹ đầu tư đa dạng. Phát triển các sản phẩm bảo hiểm đầu tư. Tư vấn cho nhà đầu tư lựa chọn sản phẩm phù hợp.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT - Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam - Chƣơng 3. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam 13 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƢ TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG 1.

TTCKTT và vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên thị trƣờng 1. TTCKTT và các yếu tố cơ bản của thị trường 1. Khái niệm về TTCKTT Xét dƣới góc độ kinh tế học, thị trƣờng là nơi gặp gỡ giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hoá. Có nhiều loại thị trƣờng khác nhau và đối tƣợng mua bán của nó là mỗi loại hàng hoá nhất định tƣơng ứng.

TTCK ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của nền KTTT, do đó còn đƣợc gọi là thị trƣờng vốn. Đó là thị trƣờng có tổ chức cao, ở đó các CK – hàng hoá của thị trƣờng, đƣợc mua bán thông qua hoạt động của các trung gian môi giới mua và bán các loại CK. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về TTCK. Theo tiếng La tinh, TTCK là BURSA, tức là cái ví đựng tiền; tiếng Pháp gọi là Bourse, tức là “mậu dịch trƣờng” hay còn gọi là Sở giao dịch.

Theo Longman Dictionary of Business English 1995, TTCK đƣợc định nghĩa là “một thị trƣờng có tổ chức là nơi các chứng khoán đƣợc mua bán tuân theo những quy tắc đã đƣợc ấn định” [77, tr. Ở Việt Nam, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có định nghĩa TTCK, nhƣng theo cách hiểu chung nhất thì TTCK là nơi gặp gỡ giữa ngƣời có nhu cầu về vốn và ngƣời có vốn nhàn rỗi muốn đầu tƣ thông qua các hoạt động trao đổi, mua bán các loại CK. Các hoạt động này đƣợc thực hiện thông qua các phƣơng thức giao dịch nhất định. Nói cách khác, TTCK là nơi phát hành và mua bán các loại chứng khoán.

Chứng khoán – hàng hoá của thị trƣờng - là bằng chứng xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu CK đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành CK. Chứng 14 khoán đƣợc thể hiện dƣới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ và các loại CK khác theo quy định của pháp luật [61]. Chứng khoán là những tài sản tài chính vì nó có khả năng mang lại thu nhập cho ngƣời sở hữu và khi cần ngƣời sở hữu chứng khoán có thể bán nó để thu tiền về. Trong TTCK, giá cả của hàng hóa chứng khoán đƣợc xác định dựa trên quan hệ cung - cầu của thị trƣờng.

TTCK về cơ bản là một thị trƣờng liên tục, sau khi các CK đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp, nó có thể đƣợc mua bán nhiều lần trên thị trƣờng thứ cấp. TTCK bảo đảm cho những NĐT có thể chuyển các CK thuộc sở hữu của mình thành tiền bất kỳ lúc nào họ muốn. Có nhiều loại TTCK, căn cứ vào phƣơng thức tổ chức, TTCK đƣợc chia thành TTCKTT (hay còn gọi là TTCK chính thức – The Stock Exchange), TTCK phi tập trung (Over the counter - OTC) và thị trƣờng chứng khoán tự do. TTCKTT (còn gọi là SGDCK/TTGDCK) là thị trƣờng có địa điểm vật chất và thời gian biểu mua bán theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện đƣợc một giao dịch CK tại sàn giao dịch, các bên tham gia thị trƣờng và các CK là đối tƣợng của giao dịch phải đáp ứng đƣợc những điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Việc mua bán CK ở TTCKTT phải đƣợc tiến hành thông qua các trung gian môi giới CK là các CTCK- thành viên của SGDCK/TTGDCK (sau đây gọi chung là Sở giao dịch chứng khoán). TTCKTT là thị trƣờng cạnh tranh tự do, các NĐT và các tổ chức kinh doanh chứng khoán đƣợc tự do tham gia vào thị trƣờng. Thị trƣờng này hoạt động liên tục, các NĐT có thể mua và bán chứng khoán nhiều lần trên thị trƣờng.

Trên TTCKTT, lợi nhuận thu đƣợc thuộc về các NĐT và các tổ chức kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về các tổ chức phát hành chứng khoán. Khác với TTCKTT, thị trƣờng OTC là thị trƣờng mua bán CK bên ngoài SGDCK. Thị trƣờng này không có địa điểm tập trung những ngƣời môi 15 giới, những ngƣời kinh doanh CK nhƣ ở SGDCK. Việc mua bán CK trên thị trƣờng OTC không tuân theo thời gian biểu hay thủ tục nhất định mà do sự thoả thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán.

Các CK đƣợc mua bán trên thị trƣờng OTC thƣờng là những CK chƣa đủ tiêu chuẩn niêm yết trên TTCKTT. Các bên tham gia thị trƣờng cũng không phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ nhƣ đối với các chủ thể tham gia giao dịch tại sàn. So với TTCKTT thì thị trƣờng OTC có lƣợng hàng hoá đa dạng hơn. Những CK đã đƣợc niêm yết trên TTCKTT cũng có thể đƣợc đem ra mua, bán trên thị trƣờng OTC.

Đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt TTCKTT với thị trƣờng OTC là cơ chế xác lập giá của các loại chứng khoán. Trên TTCKTT, các giao dịch mua bán chứng khoán phải tuân theo nguyên tắc giao dịch qua trung gian; giá cả của hàng hoá chứng khoán đƣợc xác lập thông qua đấu giá, so khớp lệnh tập trung; ở một thời điểm, chỉ có một mức giá đối với một loại chứng khoán. Còn trên thị trƣờng OTC, giá cả của hàng hoá chứng khoán đƣợc xác lập thông qua cơ chế thƣơng lƣợng, thoả thuận giá là chủ yếu; có thể có nhiều mức giá đối với một loại chứng khoán ở cùng một thời điểm. Mặt khác, chứng khoán đƣợc mua bán trên TTCKTT là những hàng hoá chất lƣợng cao, đủ tiêu chuẩn niêm yết.

Còn trên thị trƣờng OTC, hàng hoá có thể là chứng khoán chƣa đủ tiêu chuẩn niêm yết và có độ rủi ro cao hơn so với chứng khoán trên TTCKTT. Khi tham gia vào TTCKTT, NĐT sẽ phải tuân thủ các quy định về điều kiện và kỷ luật của thị trƣờng chặt chẽ hơn so với thị trƣờng OTC, nhƣng nguy cơ rủi ro mà họ phải gánh chịu vì thế cũng sẽ đƣợc giảm thiểu hơn so với các NĐT tham gia thị trƣờng OTC. Xét ở góc độ bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT thì hoạt động của TTCKTT có cơ chế bảo vệ khá rõ ràng. Pháp luật có những quy định điều chỉnh chặt chẽ tổ chức và hoạt động của TTCKTT nhƣ: quy định về nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo đảm tính công khai, minh bạch của thị trƣờng; quy định về các tiêu chuẩn, điều kiện đối với các loại hàng hoá đƣợc mua bán trên thị trƣờng; 16 quy định các điều kiện chặt chẽ đối với chủ thể tham gia thị trƣờng, đặc biệt là tổ chức niêm yết và các tổ chức cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng; quy định về tổ chức, quản lý thị trƣờng; về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm…, qua đó bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT tham gia thị trƣờng.

Còn đối với thị trƣờng phi tập trung, các giao dịch mua bán chứng khoán mặc dù cũng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các NĐT, nhƣng đó chỉ là những giao dịch có tính đơn lẻ, lại không đƣợc thực hiện qua hệ thống giao dịch của TTCK, đồng thời cũng không chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Chứng khoán (do pháp luật dân sự điều chỉnh). Hiện nay, ở nƣớc ta, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động của thị trƣờng OTC vẫn chƣa đƣợc ban hành đầy đủ. Ngoài hai loại thị trƣờng nêu trên, còn có thị trƣờng chứng khoán tự do. Đây là loại thị trƣờng không có tổ chức.

Các giao dịch mua và bán chứng khoán trên thị trƣờng này đƣợc tiến hành thông qua giao dịch thoả thuận trực tiếp. Các chứng khoán mua bán là tất cả các chứng khoán phát hành. Thị trƣờng này hoạt động không có sự quản lý của Nhà nƣớc, không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán, do đó, tính rủi ro rất cao. Mặc dù có nhiều loại TTCK đã nêu trên, nhƣng TTCKTT vẫn đƣợc coi là thị trƣờng truyền thống, điển hình và là thị trƣờng cơ bản.

Khi nói đến TTCK của bất kỳ quốc gia nào là nói đến TTCKTT, tức là nói đến SGDCK của quốc gia đó. Tuy SGDCK không đồng nghĩa với TTCK, nhƣng có vị trí đặc biệt quan trọng, có ảnh hƣởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của TTCK. Dù ở quốc gia nào và đƣợc tổ chức dƣới hình thức nào thì SGDCK cũng có những đặc điểm chung sau đây: - SGDCK là đơn vị tổ chức và phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán CK, là nơi để ngƣời bán và ngƣời mua CK gặp nhau để thực hiện việc mua bán; 17 - SGDCK không trực tiếp mua, bán, sở hữu các loại CK, không can thiệp vào việc hình thành giá CK, chỉ đƣa ra danh sách và các thông tin về các loại CK đƣợc phép giao dịch trên thị trƣờng, bảo đảm cho việc mua bán CK diễn ra công khai, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự trên thị trƣờng; - Tại SGDCK, các hoạt động chào mua, chào bán CK đƣợc diễn ra liên tục, không có ngƣời mua và ngƣời bán cuối cùng. Các CTCK là thành viên của SGDCK với tƣ cách là nhà tạo lập thị trƣờng có vai trò làm cho thị trƣờng hoạt động liên tục.

Chính vì vậy, SGDCK còn đƣợc gọi là tổ chức tự định chế của các nhà môi giới CK. Điểm cơ bản nhất để phân biệt SGDCK với các Sở giao dịch hàng hoá khác chính ở đối tƣợng giao dịch của nó, đó là các loại chứng khoán. Chứng khoán - hàng hoá của thị trƣờng là một loại tài sản rất đặc biệt, không biểu hiện giá trị nội tại. NĐT bỏ tiền ra mua CK là mua về một loại hàng hoá không có giá trị tiêu dùng nhƣng lại có thể đƣợc mua đi bán lại trên thị trƣờng thứ cấp với nhiều giá cả khác nhau.

Để xác định đƣợc giá trị của loại hàng hoá chứng khoán, ngƣời mua nó không thể xem xét, đánh giá bằng các giác quan thông thƣờng nhƣ đối với các loại hàng hoá khác mà phải trên cơ sở đánh giá các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành chứng khoán và tình hình thị trƣờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ