Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi bạo lực gia đình. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình với việc bảo vệ quyền trẻ em. Thực trạng thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em và một số giải pháp, kiến nghị.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRƢỚC HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm chung về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em 1. Khái niệm trẻ em, quyền trẻ em Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child) và 2 nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang). Trong đó khái niệm “Trẻ em” được xác định là những người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC. Việt Nam một trong những nước đầu tiên tham gia ký CRC (ngày 28-2- 1990). Quyền trẻ em được quy định trong Hiến pháp năm 1946 (trực tiếp là các Điều 14, 15 và được hàm chứa trong một số điều khác), và trong tất cả các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992, gồm cả lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2001 và Hiến pháp năm 2013.
Quyền trẻ em được thể chế hoá trong nhiều bộ luật và luật, mà tập trung là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Theo quy định tại Điều l, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Khái niệm này phần nào có thể bao hàm được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia.
Khái niệm “Quyền”, hiểu theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành…, khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Về khái niệm khoa học , “Quyề n” là nguyên tắ c đa ̣o đức xác đinh ̣ và thừa nhâ ̣n sự tự do hành đô ̣ng của con người trong mô ̣t xã hô ̣i nhấ t đinh ̣. Khái niệm “Quyền” chỉ liên quan đến hành động – mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động , nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác , thoát khỏi tình trạng bị ép buô ̣c hay bi ̣can thiê ̣p bởi những người khác. Đối với mỗi cá nhân , quyề n là sự thừa nhận về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực – đươ ̣c tự do hành động theo lý trí , vì các mục tiêu riêng , do sự lựa cho ̣n riêng tự nguyê ̣n, không bi ̣cưỡng ép.
Đối với những người xung quanh , các quyền của cá nhân đó không áp đă ̣t nghiã vu ̣ nào lên những người xung quanh ngoa ̣i trừ mô ̣t quyề n phủ quyế t: họ không được vi phạm các quyền của cá nhân đó. Công ước về quyền trẻ em gồm 54 điều khoản trong đó nêu bật bốn nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt toàn bộ Công ước, bao gồm: - Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện tất cả các quyền trẻ em. - Trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình và quyền đó phải được tôn trọng. - Dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ em.
- Những điều khoản trong Luật Quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em so với những điều khoản trong Công ước sẽ được áp dụng. Trên cơ sở những nguyên tắc trên, quyền trẻ em bao gồm 4 nhóm quyền: Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người. Bảo vệ quyền này của trẻ cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Các quyền này cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương.
Khi những nguy cơ đe doạ quyền sống còn của trẻ như: gây ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử. Những nguy cơ đe TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doạ tới sự sống còn của trẻ em là rất nhiều và có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, cộng đồng và quốc gia nào, kể cả ngay tại gia đình. Tất cả chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo quyền được sống ở mức cao nhất có thể được. Nhóm quyền bảo vệ: Quyền được bảo vệ là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng.
Nghiêm cấm lạm dụng trẻ em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ. Khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ em. Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ. Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập và phát triển năng khiếu.
Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền được lắng nghe và được kết giao hội họp. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã cụ thể hoá các nhóm quyền của trẻ em trong Công ước thành những quyền cụ thể sau: - Quyền được khai sinh và có quốc tịch - Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quyền sống chung với cha mẹ - Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự - Quyền được chăm sóc sức khoẻ - Quyền được học tập - Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch - Quyền được phát triển năng khiếu - Quyền có tài sản - Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. Như vậy, quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hoá cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em.
Đó là những đặc quyền tự nhiên của trẻ em được quy định trong pháp luật, đó là những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những được hưởng các quyền mà còn trở thành chủ thể của chính các quyền đó. Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em Bảo vệ quyền trẻ em trước hết là tôn trọng, đảm bảo cho các quyền trẻ em được thực hiện trong thực tế một cách đầy đủ; tạo điều kiện, cơ chế và cách thức phù hợp để trẻ em thực hiện được các quyền của mình, đồng thời phòng ngừa không để trẻ em bị thiệt thòi, không bị xâm hại đến các quyền đã được pháp luật thừa nhận. Bảo vệ quyền trẻ em có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, nhưng biện pháp bảo vệ bằng pháp luật là biện pháp có hiệu quả nhất.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, bảo vệ chăm sóc trẻ em còn là ngăn ngừa không để các em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: bị mồ côi cha mẹ, khuyết tật, bị xâm hại tình dục, trở thành tội phạm vị thành niên, nghiện ma tuý, tệ nạn xã hội… Thứ ba, cần phải có biện pháp xử lí các hành vi vi phạm quyền trẻ em. Có như vậy thì mới nâng cao được tính răn đe đối với những đối tượng có hành vi xâm phạm đến quyền của trẻ em. Tóm lại, bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật là hệ thống các biện pháp, cách thức, cơ chế hoạt động được pháp luật quy định nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện, đồng thời bảo đảm có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Khái niệm chung về bạo lực gia đình đối với trẻ em 1.
Khái niệm hành vi bạo lực gia đình và bạo lực gia đình đối với trẻ em Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là "sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ" [39]. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tuỳ theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em… Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Quý – Đặng Vũ Cảnh Linh, thì bạo lực gia đình là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình” [34, tr.