đặt vấn đề dưới góc độ các “quyền” của trẻ em. Năm 1923, người sáng lập ra Quỹ cứu trợ trẻ em ở nước Anh – bà Eglantuyne Jebb đã đưa ra tuyên bố nổi tiếng “Tôi nghĩ rằng chúng ta cần đòi hỏi một số quyền nhất định cho trẻ em và phấn đấu cho sự công nhận rộng rãi các quyền này”. Bà Eglantuyne Jebb đã thành lập Hội quốc tế và Qũy cứu trợ trẻ em, khởi thảo hiến chương trẻ em. Đây được coi là mốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em.
Năm 1924, tuyên ngôn Giơnevơ về quyền trẻ em được Hội Quốc Liên thông qua, khái niệm “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cập trong luật Quốc tế. Năm 1948 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tuyên ngôn thế 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới về quyền con người. Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên về các quyền và tự do của con người, tuy không phải là văn kiện quốc tế dành riêng cho trẻ em nhưng một số điều khoản của tuyên ngôn đã đề cập trực tiếp đến một số nhu cầu riêng biệt của trẻ em như điều 25 khoản 3 quy định “Người mẹ và trẻ em được bảo đảm chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em dù sinh ra trong hay ngoài giá thú đề được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau”.
Năm 1959 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tuyên ngôn (thứ 2) về quyền trẻ em gồm 10 điểm. Tuyên ngôn khẳng định “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt nhất”. Từ năm 1959 đến 1980 một loạt các văn kiện quốc tế khác cũng được thông qua, các văn kiện này đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến các quyền trẻ em. Điều 24 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ “Các trẻ em … phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo hộ”.
Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 quy định “Thanh thiếu niên phải được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột về kinh tế và xã hội”. Một số văn kiện khác như Tuyên ngôn về việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các trường hợp khẩn cấp hoặc xung đột vũ trang năm 1974. Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979. Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên năm 1985 cũng quy định nội dung tương tự… Tuy nhiên, các văn kiện trên hoặc không có tính ràng buộc về mặt pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc biệt của trẻ em, chưa chú trọng đầy đủ đến những nhu cầu và quyền đặc thù của trẻ em nên tính khả thi của những văn kiện này còn hạn chế.
Tình trạng trẻ em bị xâm phạm, bị ngược đãi, bị bóc lột về lao động, bị mua bán vẫn còn xảy ra ở tất cả các khu vực trên thế giới. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Từ năm 1989 đến nay Sau 10 năm soạn thảo Công ước về quyền trẻ em (1979 – 1989) đã hoàn thành, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990. Công ước này đã để ngỏ cho tất cả các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập.
Công ước về quyền trẻ em đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em, nội dung của công ước gồm 3 phần với 54 điều khoản, tập hợp các nguyên tắc, các quyền trẻ em và các bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả, được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội. Công ước không chỉ để cập đến quyền trẻ em nói chung mà còn đề cập đến việc bảo vệ và quyền của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: Trẻ em tị nạn, trẻ em trong khu vực có xung đột vũ trang, trẻ em bị bóc lột, trẻ em thuộc dân tộc thiểu số… Công ước còn xác lập một cơ chế quốc tế về thực hiện Công ước như theo dõi, giám sát kiểm tra, báo cáo … các quyền trẻ em ở các quốc gia. Có thể nói công ước là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em, có 193 quốc gia thành viên [61]. Đây là điều ước quốc tế đa phương có số lượng các thành viên lớn nhất trong hệ thống các điều ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc, phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ.
Năm 1990, tại New York đã diễn ra hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em. Hội nghị đã thông qua tuyên bố thế giới và kế hoạch hành động về sự sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em, đồng thời đề cập đến những thách thức, mục tiêu cụ thể nhằm bảo đảm cuộc sống và các quyền của trẻ em trong giai đoạn 1990 - 2000. Năm 2000 Liên Hợp Quốc còn thông qua hai nghị định bổ sung Công ước quyền trẻ em: Nghị định thư không bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang; Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em. Kết thúc gia đoạn này, nhân 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loại đã đạt được những thành quả bước đầu trong việc bảo đảm quyền trẻ em.
Từ ngày 8/5 đến 10/5/2002, một khóa họp đặc biệt về trẻ em đã được Liên Hợp Quốc tổ chức tại New York. Hội nghị đã xác định những mục tiêu toàn cầu về trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 nhằm “Xây dựng một thế giới phù hợp với trẻ em”. Tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, đã có rất nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em được ban hành: Tuyên bố Giơnevơ năm 1924; Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948; Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959; Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1969, Các quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (quy tắc Bắc Kinh). Hầu khắp các nước, trẻ em đã được thừa nhận và đối xử với tư cách là chủ thể có quyền chứ không chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng nhân đạo.
Đây là thành quả của gần một thế kỷ đấu tranh liên tục của nhân loại nhằm cải thiện vị thế và cuộc sống của trẻ em. Tại Việt Nam Từ thế kỷ thứ XV, Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông ban hành đã có nhiều điều khoản quy định trách nhiệm của quan lại và dân chúng địa phương phải giúp đỡ trẻ em tàn tật, trẻ mồ côi, như quy định tại điều 313 con gái và những trẻ nhỏ mồ côi… quy định việc trừng trị tội gian dâm với trẻ em gái như điều 404 “Gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm”, tội buôn bán trẻ em… Đến ngày nay Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn luôn chú trọng đến việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thế hệ của tương lai. Hiến pháp đầu tiêu của Việt Nam năm 1946 đã quy định “Trẻ em được quyền săn sóc giáo dưỡng” (điều 14) và các bản Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung sau này, vẫn khẳng định và phát triển hơn việc bảo vệ trẻ em. Điều 24 Hiến pháp năm 1959 “Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”; “Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm.
Năm 1941 tổ chức đầu tiêu của trẻ em được thành lập, nay là đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Năm 1961 Ủy ban thiếu niên, nhi đồng Việt Nam được thành lập. Tháng 9/1972 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã phát động phong trào bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo khẩu hiệu “Tất cả vì tương lai con em chúng ta”. Năm 1979 Ủy ban năm Quốc tế thiếu nhi được thành lập để phối hợp với Ủy ban năm Quốc tế trẻ em của Liên Hợp Quốc và Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã thông qua pháp lệnh bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Ngày 26/01/1990 Việt Nam đã ký công ước về quyền trẻ em và phê chuẩn công ước này ngày 20/2/1990, (không bảo lưu điều khoản nào). Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em. Ngày 20/12/2001, Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước quyền trẻ em. Để đảm bảo được quyền trẻ em thực hiện tốt và phù hợp với công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 được sửa đổi năm 2004, (điều 5) quy định “Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”, đặc biệt là các quyền cơ bản và các bổn phận của trẻ em.
Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, điều 2 quy định “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Bộ luật Lao động năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2002, đã quy định độ tuổi tối thiểu trong việc sử dụng lao động là trẻ em “cấm trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quy định thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người bị hại, người bị bắt, bị tạm giam, bị can, bị cáo… là người chưa thành niên. Các quy định bắt giữ, tạm giam, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội khi có những căn cứ tại điều 80,81,82,86,88 và 120 của Bộ Luật tố tụng hình sự.