đặt vấn đề so sánh với pháp luật hiện đại bởi “mọi sự so sánh đều khập khiễng”, song có thể nói, hiếm có một bộ luật nào vào thời bấy giờ trên thế giới lại có thể quy định về bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhiều và sâu sắc, tiến bộ đến như vậy. Mặc dù pháp luật phong kiến chủ yếu bảo vệ tầng lớp địa chủ, áp bức nông dân với những điều luật và hình phạt hà khắc song vẫn có những quy định mang đậm tính nhân văn, bảo vệ trẻ em trong một bối cảnh xã hội hết sức đói nghèo và lạc hậu. Chúng ta ngày nay nên học tập kinh nghiệm quý báu của người xưa “trong việc qui định trách nhiệm pháp lý giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý của cha mẹ đối với con cái; kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật trong các môi trường: gia đình, đoàn thể, cộng đồng dân cư và xã hội”[3].2 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN TRONG ĐƢỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống và đường lối nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước ta. Đường lối của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được thể hiện rất rõ nét, sinh động, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn và phát triển phù hợp xu hướng của thế giới hiện đại.
Điều đó đã được khẳng định ngay từ ngày đầu mới thành lập (3-2- 1930) dù trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, Đảng ta vẫn giành mối quan tâm rất lớn đến chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đối với trẻ em. Trong chương trình Việt Minh đã xác định học sinh, nhi đồng là hai tầng lớp nhân dân - lực lượng của cách mạng, đối với học sinh có chính sách là "Bỏ học phí, mở thêm trường học, giúp đỡ học trò nghèo" còn đối với nhi đồng thì chính sách là "được Chính phủ chăm sóc đặc biệt về thể lực và trí lực". Trong bài Diễn ca Hồ Chí Minh viết: Trẻ em bố mẹ khỏi lo Dạy nuôi Chính phủ giúp cho đầy đủ Thanh niên có trường học nhiều 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính phủ trợ cấp trò nghèo hàn nho Sự quan tâm của Đảng thể hiện rõ nét trong chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về Công tác thanh vận số 17/CT/TW ngày 01 tháng 09 năm 1947 với một số quy định như sau: “- Các cấp bộ trong Đoàn thanh niên Việt nam phải có người chuyên môn phụ trách thiếu nhi. - Phải mở những lớp dạy chữ cho các em biết chữ - Giúp đỡ cho các thiếu nhi ra sách, báo chí để giáo dục cho thiếu nhi - Nêu cao những thành tích của thiếu nhi - Giúp đỡ cho các em lưu lạc vì chiến tranh” [4;31] Cuộc đời hoạt động cách mạng của Người vô cùng khó khăn vất vả nhưng Người đã dành một sự quan tâm ưu ái sâu sắc và cảm động đối với trẻ em.
Người quan niệm, trẻ em là thế hệ mầm non, người chủ tương lai, quyết định vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Điều đó xuất phát từ tình thương bao la, rộng lớn và thể hiện một nhân cách đặc trưng riêng của Hồ Chí Minh. Người coi trọng nhân tố con người trong mọi công việc, hoạt động xã hội trong đó trẻ em được dành sự quan tâm đặc biệt. Người nói: "Muốn có chế độ xã hội chủ nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa.
Muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa" Từ đó đi đến việc phải "trồng người" - phải giáo dục, rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ. "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến trẻ em, Người đã từng viết trong di chúc rằng: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Với cả cuộc đời đi làm cách mạng, phục vụ tổ quốc, đồng bào, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên truyền bá tư tưởng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vì “ngày nay các cháu là nhi đồng, ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu trong đó có những quan điểm về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Điều này đã được thể hiện ngay trong 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chương trình Việt Minh mang dấu ấn rất đậm nét, đặc thù của tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà lãnh tụ cách mạng, nhà văn hoá lớn của dân tộc và thời đại. Tư tưởng nhân văn, phát triển đối với trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng đã được cương lĩnh hoá trong chương trình Việt Minh và sau đó Cách mạng tháng Tám thành công đã được thể chế hoá trong đạo luật cơ bản đầu tiên là Hiến pháp năm 1946. Điều này được minh chứng qua những quy định mang tính pháp lý cao nhất lúc bấy giờ là Hiến pháp năm 1946 có ghi rằng “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí, ở các trường sơ học địa phương quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình; Học trò nghèo được Chính phủ giúp” (Điều 15, Hiến pháp 1946) Đến bản Hiến pháp lần thứ hai ra đời 1959 đã quy định và là một minh chứng cho sự nhất quán về đường lối, chính sách trong vấn đề về trẻ em của Đảng ta. Từ những năm 1960, Đảng ta đã có nhiều chính sách về toàn dân bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng ngay cả trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh, hai miền chia cắt.
Chính sách quan tâm đến trẻ em được ghi nhận trong một số văn bản như chỉ thị số 197/CT/TW ngày 19 tháng 03 năm 1960 của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác thiếu niên, nhi đồng: “các em thiếu niên, nhi đồng ngày nay là lớp người xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản sau này. Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không những phục vụ cho sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội hiện nay mà còn chính là sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản sau này” [4;66] và “giáo dục thiếu niên, nhi đồng là một vấn đề không đơn giản mà là một vấn đề khoa học” [4;67]. Trong các báo cáo về “công tác thanh vận” và báo cáo về “nông vận là trọng tâm của công tác dân vận” có nhấn mạnh về vai trò của trẻ em như “thiếu nhi là những người gánh vác tương lai nên chúng ta phải săn sóc”[4;33] và “mọi ngành phải lấy nhiệm vụ bảo vệ, giáo dục thiếu nhi làm nhiệm vụ của mình” [4;33] Năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, truyền thống bảo vệ, chăm sóc và giáo 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục trẻ em vẫn nhất quán được thể hiện trên phương diện lý luận, pháp luật và tư tưởng. Đường lối chính sách của Đảng về trẻ em được cụ thể hoá trong "Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em".
Pháp lệnh này đánh dấu sự kiện pháp lý cơ sở mang tính toàn diện nhất so với trước đó trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992, các quyền xã hội của công dân trong đó có quyền trẻ em đã có sự kế thừa và phát triển, phù hợp với những điều kiện mới [5;275]. Các quy định về quyền trẻ em đã trở thành một bộ phận cấu thành nội dung Luật Hiến pháp Việt nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền lập hiến Việt nam [6;20]. Đến Hiến pháp năm 1992, vấn đề quyền trẻ em, với trên 10 điều trong số 147 điều của Hiến pháp không còn là những quy định riêng lẻ, mà đã thực sự trở thành một chế định pháp lý chặt chẽ, hoàn chỉnh, mang tính hiến định.
Hiến pháp đã thể hiện một nhân sinh quan, một nhận thức toàn diện đối với vấn đề trẻ em trong các vấn đề xã hội. Với quan điểm coi quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng của quyền con người, Hiến pháp 1992 đã thể hiện việc đặt mối quan hệ quyền trẻ em với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với quyền con người. Trong số 34 điều (từ điều 49 đến điều 82) của chương V "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", có đến 25 điều quy định các quyền cơ bản của công dân trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến quyền trẻ em, vì bản thân trẻ em cũng là công dân. Điều 65 của Hiến pháp trịnh trọng tuyên bố: "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục".
Đầu tư cho sự nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em cũng là đầu tư cho tương lai. Hiến pháp đã gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu chăm sóc người mẹ, Điều 40 quy định: "Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em". Về phương diện mối quan hệ giữa người mẹ và trẻ, điều 63 Hiến pháp đã quy định: "Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật.
nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bổn phận của người mẹ". Điều 41 quy định: "Nhà nước quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học". Điều 35 quy định: "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.", "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác" (điều 36). Quyền học tập: bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.
"Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức". Điều 59 quy định: "nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học tập văn hoá và học nghề phù hợp. Học sinh có năng khiếu được nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập và phát triển tài năng" (điều 59).