Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ quyền của con khi cha mẹ ly hôn; Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền của con khi cha mẹ ly hôn; Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của con khi cha mẹ ly hôn. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ Quyền trẻ em là”tất cả những gì trẻ em cần có để đƣợc sống”và lớn lên một cách an toàn và lành mạnh.”Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là ngƣời”tiếp nhận một cách thụ động”những điều kiện tốt của”ngƣời lớn mang lại,”mà các em cũng”là những thành viên tham”gia tích cực vào quá”trình phát triển.”Trẻ em là đối tƣợng cần”đƣợc sự quan tâm,”chăm sóc, giáo dục đặc biệt từ gia đình,”nhà trƣờng và cả xã hội.”Vì vậy, pháp luật quốc tế”cũng nhƣ các quốc gia”thành viên đang ngày”càng hoàn thiện hơn để bảo vệ đầy”đủ những quyền cơ:bản của trẻ em.” Năm 1924, khi Tuyên bố Giơnevơ về”quyền trẻ em”đƣợc Hội Quốc liên thông qua thì vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” mới chính thức:đƣợc đề cập.”” Trong Tuyên bố này, vấn đề quyền trẻ em đƣợc liệt kê cụ thể theo 5 nhóm quyền nhƣ: (1) Trẻ em phải đƣợc phát triển một cách bình thƣờng cả về thể chất và tinh thần; (2) Trẻ đói phải đƣợc cho ăn, trẻ ốm phải đƣợc chữa trị, trẻ lạc hậu phải đƣợc giúp đỡ, trẻ phạm tội phải đƣợc giáo dục, trẻ mồ côi và lang thang phải có nơi trú ẩn và phải đƣợc chăm sóc; (3) Khi xảy ra tai họa, trẻ em là ngƣời đầu tiên đƣợc cứu trợ; (4) Trong đời sống, trẻ em phải có quyền đƣợc kiếm sống và phải đƣợc bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột; (5) Trẻ em phải đƣợc nuôi dƣỡng theo nhận thức rằng, tài năng của chúng phải phục vụ cho đồng bào mình [45]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1948, Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời, trong đó đã khẳng định “Mọi ngƣời đều đƣợc hƣởng tất cả các quyền và quyền tự do, mà không có bất kỳ sự phân biệt nào, nhƣ về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, gốc gác dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc bất cứ một thực trạng nào khác”.
Trẻ em đƣợc thừa nhận là chủ thể đƣợc thừa hƣởng đầy đủ các quyền con ngƣời, đƣợc bình đẳng nhƣ các thành viên trong xã hội khác. Năm 1959, Liên Hợp quốc ra Tuyên bố thứ hai về quyền trẻ em. Tuyên bố năm 1959 kế thừa và phát triển nội dung của Tuyên bố Giơnevơ năm 1924, khẳng định rằng: "Trẻ em, do chƣa trƣởng thành về tinh thần và thể lực cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ về pháp lý thích hợp, trƣớc cũng nhƣ sau khi sinh”. Loài ngƣời có trách nhiệm trao cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất.
Tuyên bố năm 1959 kêu gọi các bậc cha mẹ, đàn ông và phụ nữ với tƣ cách là những cá nhân, kêu gọi các tổ chức tình nguyện, giới cầm quyền địa phƣơng và chính phủ các nƣớc công nhận những quyền của trẻ em và phấn đấu để thực hiện bằng luật pháp và những biện pháp khác theo”10 nguyên tắc và những nguyên tắc này nhƣ là 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ em [47]. Năm”1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ƣớc về quyền trẻ em (CRC).”Việt Nam đã phê chuẩn Công ƣớc này.”Lần đầu tiên trong lịch sử loài ngƣời, một văn bản quốc tế đề cập toàn diện về quyền trẻ em theo hƣớng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy chăm”sóc và bảo vệ các quyền trẻ em trên thực tế.”Rất nhiều các quyền trẻ em trên mọi các lĩnh vực cơ bản của đời sống đã đƣợc CRC ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em đƣợc chăm sóc một cách có hiệu quả, đƣợc bảo vệ, đƣợc”phát triển toàn diện cả về thể chất,‟trí tuệ,”tình cảm,”đạo đức”và xã hội.”CRC bao gồm 54 điều với các quy định về nội dung các quyền”dân sự,”chính trị, kinh tế,”văn hóa.” 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Không”chỉ đề cập đến trẻ em nói chung, CRC còn đề cập đến việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”(gồm: trẻ em tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hƣởng của xung đột vũ trang.”Đồng thời, CRC xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều trẻ em nhƣ bị lạm dụng tình dục,”bóc lột sức lao động, ảnh hƣởng của chất ma túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang.”CRC đƣợc coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay.”Để bổ sung cho CRC, Liên Hợp quốc còn thông qua hai Nghị định thƣ bổ sung, đề cập đến việc cấm sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và cấm buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em”(Việt Nam đã phê chuẩn 2 Nghị định thƣ này). Đến nay, đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em đƣợc ban hành để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em nhƣ: Hƣớng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở ngƣời chƣa thành niên, gọi tắt là Hƣớng dẫn Riát (1990); Quy tắc của Liên Hợp quốc về Bảo vệ”ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc quyền tự do (1990); Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em (1990). Tuyên bố về chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thƣơng mại (1996); Chƣơng trình hành động chống việc bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thƣơng mại”(1996); Công ƣớc 182 về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và Khuyến nghị 190 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất(1999); Nghị định thƣ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn ngƣời, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ƣớc Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nhận con nuôi quốc tế (1993);.” Một”số quốc gia nhƣ Thụy Điển, Na Uy, Nga, Úc, Anh”Đức đặc biệt quan tâm đến xây dựng khuôn khổ pháp lý thân thiện với trẻ em và xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội, mạng lƣới”công tác xã hội mang tính chuyên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.”Thông thƣờng cứ”2.000‟dân có một cán”bộ xã hội chuyên nghiệp”và 4 - 5 cộng tác viên và”cứ 30.0000 dân”có một trung tâm công tác xã hội.”Việc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh”đặc biệt đƣợc thực hiện chủ yếu bởi các”trung tâm công tác xã hội và”các cơ quan quản lý nhà nƣớc”về trẻ em và một phần”công việc sẽ đƣợc ủy quyền cho”các tổ chức phi chính phủ." Các quốc gia châu Á (nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippine,.) tùy theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia mà việc bảo vệ trẻ em đƣợc thực hiện theo những mô hình khác nhau.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia này đều hƣớng tới việc xây”dựng “hệ thống bảo”vệ trẻ em”; hình thành đội ngũ cán bộ xã hội và các cơ sở bảo trợ trẻ em, xây dựng mô hình gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.”Malaysia và Hồng Kông (Trung Quốc) đặc biệt quan tâm tới mô hình gia đình chăm sóc thay thế, trung tâm công tác xã hội với trẻ em;”trung tâm trẻ em đƣờng phố, trung tâm phục hồi trẻ em nghiện ma túy. Thái Lan và Philippine lại chú trọng nhiều hơn vào các mô hình trợ giúp trẻ em và hỗ trợ gia đình có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt [46]. Luật”Trẻ em và ngƣời trẻ tuổi của Singapore năm 1993 (Children and Young Persons Act Chapter 38) có nội dung chủ yếu đề cập đến vấn đề bảo vệ trẻ em quy định trẻ em là ngƣời dƣới 14 tuổi, với 9 nhóm đối tƣợng cần sự bảo vệ đặc biệt, gồm: (i) trẻ không có bố mẹ hoặc ngƣời bảo hộ; (ii) trẻ em bị bỏ rơi; (iii) cha, mẹ, ngƣời bảo hộ không phù hợp,”không có khả năng chăm sóc, sao nhãng làm cho trẻ em rơi vào tình trạng có những mối quan hệ xấu, đe doạ đến đạo đức hoặc không thể chế ngự đƣợc; (iv) trẻ đã bị hoặc có nguy cơ cao bị đối xử tồi tệ; (v) trẻ em cần đƣợc khám, điều trị để bảo đảm sức khoẻ hoặc sự phát triển nhƣng cha, mẹ hoặc ngƣời bảo hộ sao nhãng hoặc từ chối làm những công việc đó; (vi) trẻ có hành vi và nhân cách gây nguy hiểm cho bản thân ngƣời khác mà cha, mẹ, ngƣời bảo hộ không thể hoặc không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com muốn hoặc thất bại trong việc hỗ trợ trẻ;”(vii) trẻ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng bởi những mâu thuẫn dai dẳng giữa trẻ và cha, mẹ, ngƣời bảo hộ hoặc giữa cha, mẹ hoặc ngƣời bảo hộ hoặc những mâu thuẫn, đổ vỡ trong gia đình dẫn đến thƣơng tổn về tình cảm; (viii) trẻ sống trong môi trƣờng hoặc có liên quan, bị ảnh hƣởng bởi ngƣời phạm tội hoặc những hành vi phạm tội; (ix) trẻ sống lang thang không nơi ở, không nguồn sống, trẻ xin ăn, hát rong, bán xổ số, bán hàng rong, đánh bạc, sử dụng các thuốc kích thích [18]. Luật Trẻ em”của Malaysia (Act 611 Child Act 2011)”không định nghĩa trẻ em nhƣng lại quy định cụ thể”độ tuổi của trẻ em khi gửi đến các dịch vụ, trung tâm, trƣờng học.”Ví dụ: “Trẻ em dƣới 10 tuổi thì không đƣợc đƣa vào các trƣờng giáo dƣỡng; trẻ em dƣới 14 tuổi thì không đƣợc đƣa”vào trƣờng cách ly hoặc giam giữ trẻ em vi phạm pháp luật”.