mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc, đã xác định một trong những phƣơng hƣớng cơ bản của chính sách kinh tế là: “Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt Kiều nước ta để hợp tác kinh doanh”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp nhận đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài, ngày 29/12/1987, Quốc hội nƣớc ta đã thông qua Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam. Trong Luật này, bên cạnh những quy định chung, là những quy định về hình thức đầu tƣ, biện pháp bảo đảm đầu tƣ, quyền và trách nhiệm của các bên tham gia đóng góp vốn và vấn đề quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam.
Sau 4 lần sửa đổi, bổ sung (năm 1990, 1992, 1996, 2000), và để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tƣ. Theo Luật đầu tƣ năm 2005: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt đông đầu tư” và “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Luật đầu tƣ nƣớc năm 2005 quy định nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc đầu tƣ vào Việt Nam dƣới các hình thức sau: Thứ nhất, đầu tƣ 100% vốn nƣớc ngoài. Đó là hình thức những doanh nghiệp dƣới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn mang pháp nhân Việt Nam do nƣớc ngoài đầu tƣ, hoạt động theo pháp luật và chịu sự kiểm soát của Nhà nƣớc Việt Nam.
Ở hình thức này, chủ đầu tƣ nƣớc ngoài chịu trách nhiệm hoàn toàn về tài chính, quản lý điều hành và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai, liên doanh bằng việc thành lập công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan trên cơ sở sự tham gia của một hay nhiều thành viên Việt Nam với một bên là một hay nhiều thành viên nƣớc ngoài. Doanh nghiệp thực hiện đầu tƣ theo hình thức liên doanh có tƣ cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Thứ ba, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là hình thức đầu tƣ mà các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và Việt Nam cùng ký kết hợp đồng để hoạt động tại Việt Nam trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho mỗi bên mà không cần thành lập pháp nhân mới. Thứ tư, thành lập khu chế xuất. Đây là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập. Khu chế xuất gồm doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa một bên là chủ đầu tƣ nƣớc ngoài và một bên là chủ đầu tƣ Việt Nam.
Hình thức đầu tƣ này có sức hấp dẫn với mục tiêu thu hút đƣợc nhiều vốn đầu tƣ, tạo đƣợc nhiều việc làm, tăng nhanh khả năng xuất khẩu, góp phần tác động tích cực đến khu vực kinh tế nội địa. Ngoài 4 hình thức chủ yếu trên, để khuyến khích đầu tƣ các tổ chức, cá nhân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc ngoài đầu tƣ vào xây dựng kết cấu hạ tầng tại Việt Nam, còn có các hình thức đầu tƣ khác nhƣ: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyên giao (BT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng cho thuê thiết bị. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam đƣợc hiểu là các đơn vi kinh tế cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trƣờng, có sự tham gia góp vốn và quản lý của bên nƣớc ngoài, đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tƣ và các văn bản pháp luật có liên quan, nhằm thu lợi nhuận hoặc mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam bao gồm doanh nghiệp đƣợc thành lập bởi nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do Nhà đầu tƣ mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam có một số đặc điểm chủ yếu sau: - Về sở hữu: Trong các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài, tài sản thuộc một phần sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (đối với doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (đối với doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Một số doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tƣ nhiều quốc gia nhƣ các công ty đa quốc gia, với những đặc điểm về sở hữu nhƣ vậy nên luật pháp Việt Nam quy định khi có tranh chấp, các bên không hòa giải đƣợc thì có thể lựa chọn trọng tài Việt Nam, trọng tài nƣớc thứ ba, hoặc trọng tài quốc tế để phân xử. - Về mặt pháp lý: Đây là chủ thể kinh doanh có yếu tố nƣớc ngoài, đƣợc thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, có tƣ cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó trực tiếp là Luật doanh nghiệp, Luật đầu tƣ nƣớc ngoài và phù hợp với thông lệ quốc tế. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về tài chính: Theo quy định của Luật đầu tƣ Việt Nam, các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc quyền lựa chọn phƣơng thức huy động và sử dụng vốn hiệu quả.
Các doanh nghiệp đƣợc mở tài khoản ở các ngân hàng nƣớc ngoài khi đƣợc ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam chấp thuận, đƣợc chuyển ra nƣớc ngoài vốn đầu tƣ và tài sản hoặc lợi nhuận hợp pháp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Về quản lý, điều hành doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phần lớn có sự tham gia quản lý trực tiếp của ngƣời nƣớc ngoài, quyền quản lý trực tiếp của ngƣời nƣớc ngoài, quyền quản lý phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Đối với doanh nghiệp liên doanh thì quyền cao nhất thuộc về hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị quyết định các vấn đề chính nhƣ phƣơng án sản xuất, kinh doanh; vốn đầu tƣ; sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ chủ chốt trong doanh nghiệp.
Điều hành trực tiếp doanh nghiệp là giám đốc, ban giám đốc. Các doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài thƣờng do ngƣời nƣớc ngoài trực tiếp quản lý điều hành. - Về quan hệ lao động: Ngƣời lao động làm việc trong các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài về cơ bản là ngƣời làm thuê, quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ. Các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài hoạt động theo cơ chế thị trƣờng vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, do đó nguyên tắc lãnh đạo, quản lý lao động có nhiều điểm khác với các loại hình khác.
Mặt khác, do ngƣời quản lý và ngƣời lao động thƣơng bất đồng ngôn ngữ, phong tục, tập quán và thói quen nên giữa họ đã gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, hạn chế sự thông cảm và chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, để quản lý, điều hành có hiệu quả đòi hỏi ngƣời sử dụng lao động không những phải nắm và hiểu biết đƣợc pháp luật và thông lệ quốc tế, biết điều hòa mâu thuẫn, nhất là biết giải quyết những xung đột về mặt lợi ích. Sau khi Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (năm 1987) có hiệu lực thì các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đã tiến hành đầu tƣ vào Việt Nam theo hình thức thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong thời gian đầu, các doanh nghiệp này 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc xếp vào các thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc, tƣ bản tƣ nhân tùy theo hình thức sở hữu.
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc xác định là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế của đất nƣớc. Hơn nữa, ngoài các đối tác đầu tƣ từ các nƣớc tƣ bản, còn có các đối tác đầu tƣ từ nƣớc xã hội chủ nghĩa (nhƣ Trung Quốc), nên không chỉ xếp vào thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc và tƣ bản tƣ nhân đƣợc. Do đó, Đại hội Đảng lần thứ IX đã tách những doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành một thành phần kinh tế riêng, đó là thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Từ Đại hội Đảng lần thứ IX đến nay, trong nền kinh tế chung của đất nƣớc, thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng thể hiện rõ hơn vị trí của mình “.
là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế”. Vừa qua, tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta một lần nữa thể hiện quan điểm nhất quán trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khẳng định các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Nhƣ vậy, nếu tính từ khi có Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (ngày 29/12/1987) đến nay thì đã hơn 20 năm có cơ sở pháp lý cho việc hình thành các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.