Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của NLĐ có việc làm PCT, đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phần tổng quan này, tác giả cố gắng khái quát nhiều nhất các công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này. Tổng quan tình hình nghiên cứu về lý luận 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm và đặc điểm của người lao động có việc làm phi chính thức Đầu tiên, phải khẳng định rằng các thuật ngữ: “việc làm PCT”, “khu vực PCT” hay “khu vực kinh tế PCT” và “lao động PCT” hay “NLĐ có việc làm PCT” là những thuật ngữ không thể tách rời nhau. Vì trong khu vực kinh tế PCT chứa đựng việc làm PCT và khu vực kinh tế PCT không thể vận hành nếu thiếu đi NLĐ. Hiện nay, các khái niệm nêu trên vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Thứ nhất, những công trình nghiên cứu xác định NLĐ có việc làm PCT một cách gián tiếp qua việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế, an sinh xã hội.
Có: Đồng Quốc Đạt (2008), “Một số đặc điểm của hệ thống an sinh xã hội khu vực phi chính thức ở Việt Nam” [23] bằng việc đưa ra khái niệm về an sinh xã hội cho khu vực PCT, tác giả cũng đã gián tiếp chỉ ra các thành viên thuộc khu vực PCT chính là NLĐ có việc làm PCT; Lư Nguyễn Xuân Vũ (2010), “Bước đầu tìm hiểu nghề kinh doanh phế liệu của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh” [47] đã chỉ ra ngành nghề kinh doanh phế liệu ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 thuộc khu vực kinh tế PCT và NLĐ làm các công việc này là lao động có việc làm PCT; Lưu Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thiềng (2011) trong “Thanh niên di cư làm việc trong khu vực phi chính thức tại Hà Nội là ai?” [49] cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm NLĐ có việc làm PCT, mà với việc trích dẫn định nghĩa khu vực PCT của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2003), nhóm tác giả đã gián tiếp công nhận tất cả những NLĐ làm việc trong khu vực PCT chính là NLĐ có việc làm PCT. Tương tự như vậy, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác (như: [65]; [22]; [122]; [78]; [52]; [75]; [134]; [21]; [28]; [20]). Goetz (2022), “What do we know about rural and informal nonfarming labour? Evidence from a mixed methods study of artisanal and smallscale mining in Northwest Tanzania” [144] đã xác định Lao động ở nông thôn, chủ yếu là PCT; Dina Adei, Anthony Acquah Mensah, Williams Agyemang-Duah & Kenneth Kwame KanKam, Rahman Shiri (2021) “Economic Cost of Occupational Injuries and 8 Diseases among Informal Welders in Ghana” [134] nhận định nghề hàn xì thuộc khu vực kinh tế PCT và NLĐ làm công việc này chính là NLĐ có việc làm PCT; Veronica Peprah, Daniel Buor & David Forkuor (2019), “Characteristics of informal sector activities and challenges faced by women in Kumasi Metropolis, Ghana” [150] không đưa ra khái niệm NLĐ có việc làm PCT mà trực tiếp chỉ ra những đặc điểm của NLĐ có việc làm PCT. Cụ thể bài viết cho biết 30,9% (trong tổng số 356 phụ nữ làm việc PCT) phải đối mặt với nhiều thách thức như không đủ khách hàng, không trả được nợ, thuế và phí giấy phép cao, không có sẵn tài chính, thiếu không gian, thiếu vốn, thiết bị và vướng mắc với các quy định hiện hành.
Tương tự cách tiếp cận có Mayowa Abiodun Peter-Cookey, Kanda Janyam, (2017), “Reaping just what is sown: Low-skills and low-productivity of informal economy workers and the skill acquisition process in developing countries” [147] cũng không đưa ra khái niệm NLĐ có việc làm PCT mà chỉ tiếp cận đối tượng lao động này qua một số đặc điểm của họ, bài viết quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa kỹ năng và thu nhập. Bài viết cho rằng NLĐ có việc làm PCT có kỹ năng thấp, khiến họ rơi vào vòng luẩn quẩn: kỹ năng thấp – năng suất thấp – thu nhập thấp làm cho quyền lợi kinh tế, thu nhập không được đảm bảo. Cùng cách tiếp cận này còn có Salmon Mugoda, Stephen Esaku, Rose Kibuka Nakimu & Edward Bbaale (2020) “The portrait of Uganda’s informal sector: What main obstacles do the sector face?” [148] đã chỉ ra rằng đặc trưng của lao động có việc làm PCT là trình độ học vấn thấp, không có kỹ năng chuyên môn và đối tượng lao động trong những công việc như quán ăn, bán cá, đánh giày, v.v…chủ yếu là học sinh tiểu học đã bỏ học và những người không có trình độ học vấn. Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều xác định NLĐ có việc làm PCT theo một cách đơn giản, họ là những NLĐ làm việc trong khu vực kinh tế PCT hoặc NLĐ làm một công việc mà công việc đó được xác định là PCT, hoặc một số công trình tiếp cận NLĐ có việc làm PCT dựa vào đặc điểm của họ.
Theo đa số các công trình nghiên cứu, những NLĐ có việc làm PCT có đặc điểm là thu nhập thấp, không ổn định; môi trường lao động nguy hiểm, độc hại dễ mắc các bệnh nghề nghiệp, điều kiện sinh sống không đảm bảo; khó tiếp cận các chính sách, pháp luật của nhà nước; không có tổ chức xã hội bảo vệ, phần lớn là phụ nữ, lao động di cư. Thứ hai, những công trình nghiên cứu xác định NLĐ có việc làm PCT theo hướng tiếp cận khu vực kinh tế PCT và việc làm PCT. Gồm: Viện Khoa học Thống kê (2010), “Khu vực kinh tế phi chính thức ở hai thành phố lớn của Việt Nam - Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh: Phân tích sâu về kết quả thu được từ cuộc Điều tra Lao động Việc làm 2007 và cuộc Điều tra khu vực kinh tế phi chính thức tại Hà Nội (2007) và TP.
Hồ Chí Minh (2008)” [126]. Qua nghiên cứu cho thấy công trình này cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm NLĐ có việc làm PCT, công trình chủ yếu đi phân tích khu vực kinh 9 tế PCT và việc làm PCT ở Việt Nam. Theo tài liệu này, khu vực kinh tế PCT được định nghĩa là “tất cả các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi không đăng ký kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh) và không thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản” và gọi các doanh nghiệp này là “các hộ sản xuất kinh doanh PCT” [126, tr 24]. Do đó, các hộ sản xuất kinh doanh chính thức (có đăng ký kinh doanh) thuộc khu vực kinh tế chính thức.
Công trình này cũng chấp nhận định nghĩa việc làm PCT như sau: “Việc làm PCT là việc làm không có bảo hiểm xã hội” [126, tr 24]. Theo công trình này, những NLĐ làm việc trong khu vực kinh tế PCT và những NLĐ (kể cả lao động làm việc trong khu vực kinh tế chính thức) không có BHXH là NLĐ có việc làm PCT. Bằng việc đưa ra định nghĩa về khu vực kinh tế PCT và việc làm PCT, công trình đã mở rộng phạm vi xác định NLĐ có việc làm PCT. Cũng có những tác giả khác cùng với quan điểm trên (như [1]; [61]; [56]; [45]; [68]; [16]; [74]; [57]; [133]).
Dina Adei, Imoro Braimah, John Victor Mensah, Anthony Acquah Mensah & Williams Agyemang-Duah (2021), “Improving upon the working environment of informal sector workers in Ghana: The role of planning” [135] cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm NLĐ có việc làm PCT mà trực tiếp chỉ ra những người làm dịch vụ PCT như lái xe, nhân viên thẩm mỹ, người khuân vác, người chế biến cá và thợ cơ khí ở khu vực đô thị Sekondi-Takoradi là lao động PCT. Bài viết cho rằng “Khu vực PCT biểu thị việc làm và sản xuất diễn ra trong các doanh nghiệp nhỏ và/hoặc không đăng ký, chưa có tư cách pháp nhân” nên các công việc trên chính là PCT. Việc hiểu về NLĐ có việc làm PCT như các công trình nêu trên vẫn khá đơn giản, chủ yếu theo hướng một công việc nào đó được xem là công việc PCT và người làm công việc đó được xác định là NLĐ có việc làm PCT hoặc khu vực kinh tế PCT được xác định là những nơi nào và NLĐ làm việc tại những nơi đó được xem là NLĐ có việc làm PCT, hoặc NLĐ có việc làm PCT có những đặc điểm gì. Một số công trình tiếp cận khái niệm NLĐ có việc làm PCT một cách toàn diện hơn dựa trên sự kết hợp khái niệm khu vực kinh tế PCT và việc làm PCT.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ góc độ tiếp cận, nghiên cứu và hoàn cảnh lịch sử. Đa số các công trình nêu trên đều chủ yếu nghiên cứu về khu vực kinh tế PCT với những đặc điểm của nó và lao động có việc làm PCT chỉ là một thành phần, yếu tố của khu vực kinh tế PCT. Thứ ba, những công trình trực tiếp nghiên cứu về NLĐ có việc làm PCT. Có: Tổng cục thống kê và ILO (2016), “Báo cáo lao động phi chính thức 2015” [107], đã đưa ra khái niệm và định nghĩa của quốc tế về lao động PCT nói chung và đưa ra khái niệm khu vực kinh tế PCT và việc làm PCT trong phạm vi và nguyên tắc áp dụng riêng với Việt Nam nói riêng [107, tr 5].
Và theo nghiên cứu này “Lao động PCT được định nghĩa là lao động có việc làm PCT”. Ở đây dễ nhận thấy cách xác định NLĐ có 10 việc làm PCT trong “Báo cáo lao động phi chính thức 2016” và “Khu vực kinh tế phi chính thức ở hai thành phố lớn của Việt Nam - Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh: Phân tích sâu về kết quả thu được từ cuộc Điều tra Lao động Việc làm 2007 và cuộc Điều tra khu vực kinh tế PCT tại Hà Nội (2007) và TP. Hồ Chí Minh (2008)” năm 2010 của Viện Khoa học Thống kê tương đương nhau.
Nhưng trong “Báo cáo lao động phi chính thức 2016” các nghiên cứu được thực hiện bài bản, đầy đủ hơn và nhấn mạnh hơn đến NLĐ có việc làm PCT vì Báo cáo này đã xác định NLĐ có việc làm PCT dựa trên 5 tiêu chí [107, tr 6], chứ không chỉ đơn giản căn cứ vào khu vực làm việc hay BHXH như các công trình nghiên cứu trước đó. Cùng hướng nghiên cứu này cũng có nhiều tác giả khác (như [67]; [31]; [62]; [42]; [17]; [69]). Maranatha Wijayaningtyas, Kukuh Lukiyanto, Ellysa Nursanti, Dimas Indra Laksmana (2022) “The effect of economical phenomenon on informal construction workers earnings within Covid-19 pandemic: A mixed method analysis” [146] cũng tiếp cận khái niệm NLĐ có việc làm PCT như vậy.