chương 1 Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc dịch chuyển lao động giữa các quốc gia trở thành một xu hướng tất yếu. Việt Nam là một trong những quốc gia có lực lượng lao động dồi dào nhưng phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt chuyên môn và nguồn lao động chất lượng cao. Do đó, nước ta vẫn tiếp nhận lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn vào làm việc và lực lượng lao động này ngày càng gia tăng. Nhằm điều chỉnh loại quan hệ lao động đặc biệt này, Nhà nước đã nội luật hóa các nội dung về người lao động nước ngoài cho phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
Các quy định pháp luật trong lĩnh vực lao động nói chung và về người lao động nước ngoài nói riêng không 18 ngừng được hoàn thiện, góp phần phát huy những mặt tích cực và đảm bảo quyền, lợi ích của lao động nước ngoài. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài 2. Khái niệm hợp đồng lao động 2.
Định nghĩa hợp đồng lao động Hiện nay, pháp luật lao động Việt Nam không có quy định riêng về hợp đồng lao động với một bên là người lao động nước ngoài. Theo tinh thần của Bộ luật Lao động năm 2012 thì các quy định về hợp đồng lao động được áp dụng chung cho cả lao động là công dân Việt Nam và lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Do đó, nội dung và hình thức của hợp đồng lao động giữa hai chủ thể là người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động nước ngoài về cơ bản sẽ được thực hiện như đối với hợp đồng lao động thông thường với một bên chủ thể là người lao động Việt Nam. Như vậy, từ định nghĩa của hợp đồng lao động nói chung theo Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2012, hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài là sự thỏa thuận giữa người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người sử dụng lao động nước ngoài về các nội dung: việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Đặc điểm của hợp đồng lao động Như đã phân tích tại tiểu mục 1.2 ở Chương 1, hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài có đầy đủ các đặc điểm của một hợp đồng lao động nói chung. Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng lao động. Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định hợp đồng lao động là “sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương” và một số nội dung khác. Đặc điểm này cũng được ghi nhận trong quy định về những nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; cụ thể là tại điểm đ khoản 1 Điều 23 Bộ luật Lao động năm 2012, hợp đồng lao động phải có nội dung về “mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Thứ hai, sự phụ thuộc về mặt pháp lý giữa hai bên chủ thể của quan hệ pháp luật lao động được hình thành trên cơ sở hợp đồng. Pháp luật lao động đã khẳng định đặc điểm này của hợp đồng lao động qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động. Theo đó, người sử dụng lao động có quyền bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh và khen thưởng, xử lý hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động (điểm a khoản 1 Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2012); còn người lao động có nghĩa vụ chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động (điểm b khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012). Ngoài ra, người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động (điểm a khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012) với các nội dung về 21 công việc, địa điểm làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
đã thỏa thuận khi giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động; tức là người lao động đã đặt mình vào sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động về nội dung công việc phải làm, địa điểm và thời giờ làm việc. Người lao động bắt buộc phải tuân thủ các yêu cầu này. Thứ ba, tính định danh của quan hệ hợp đồng lao động. Đặc điểm này được ghi nhận tại Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2012: “Công việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kết hợp đồng thực hiện.
Địa điểm làm việc được thực hiện theo hợp đồng lao động hoặc theo thỏa thuận khác giữa hai bên”. Thứ tư, thời gian thực hiện hợp đồng lao động. Thời gian thực hiện hợp đồng lao động là một yếu tố đặc trưng của quan hệ lao động theo hình thức hợp đồng lao động. Pháp luật lao động Việt Nam phân chia hợp đồng lao động thành 03 loại dựa trên thời gian có hiệu lực của hợp đồng lao động và quy định nội dung bắt buộc trong hợp đồng lao động bao gồm các điều khoản về thời hạn của hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động… (Điều 22 Bộ luật Lao động năm 2012).
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Lao động năm 2012, trong một số trường hợp thì hợp đồng lao động có thể được tạm hoãn thực hiện nếu pháp luật có quy định hoặc do hai bên thỏa thuận. Thứ năm, hợp đồng lao động có thể được sửa đổi, bổ sung về nội dung. Hợp đồng lao động có thể được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản bằng phụ lục hợp đồng lao động. Trong trường hợp này, phụ lục hợp đồng lao 22 động phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực.
Phụ lục hợp đồng lao động này được xem là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động (Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2012). Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 03 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung. Kết quả sửa đổi, bổ sung ngoài việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động thì cũng có thể tiến hành giao kết hợp đồng lao động mới (Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2012). Thứ sáu, nguồn điều chỉnh của hợp đồng lao động.
Theo khoản 2 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì: “Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”. Mặt khác, đối với quy định về tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành - một dạng của thỏa thuận tập thể nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng được Chính phủ quy định và công bố (khoản 3 Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2012). Chủ thể giao kết hợp đồng 2. Người sử dụng lao động Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá 23 nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”.
Như vậy, pháp luật chỉ quy định điều kiện về năng lực chủ thể đối với cá nhân, cá nhân “phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” thì mới trở thành người sử dụng lao động. Căn cứ quy định về người sử dụng lao động nói chung (khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2012), các nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động đã quy định cụ thể về người sử dụng lao động nước ngoài (khoản 1 Điều 3 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động; khoản 1 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP). Theo đó, chủ thể trực tiếp giao kết hợp đồng lao động được chia thành các nhóm sau đây: Nhóm thứ nhất, đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã thì người giao kết hợp đồng lao động là người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc người được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã ủy quyền hợp pháp. Nhóm thứ hai, đối với người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật thì người giao kết hợp đồng lao động là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc người được người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ủy quyền hợp pháp.
Nhóm thứ ba, đối với người sử dụng lao động là hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì người giao kết hợp đồng lao động là người được các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức ủy quyền làm người đại diện theo quy định của pháp luật. 24 Nhóm thứ tư, đối với người sử dụng lao động là cá nhân thì người giao kết hợp đồng lao động là cá nhân trực tiếp sử dụng lao động và không được ủy quyền cho người khác. Việc ủy quyền giao kết hợp đồng của người sử dụng lao động phải lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền trong trường hợp này được thực hiện theo mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 47/2015/TT- BLĐTBXH ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH).