Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" do nghiên cứu sinh Trần Thúy Hằng thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nông Quốc Bình và TS. Đỗ Ngân Bình, thuộc chuyên ngành Luật quốc tế, mã số 9380108.

Về tính cấp thiết, tác giả luận án chỉ ra rằng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sự dịch chuyển lao động quốc tế diễn ra mạnh mẽ. Đối với quốc gia tiếp nhận, lao động nước ngoài bổ sung nhân lực thiếu hụt, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, việc sử dụng người lao động nước ngoài cũng phát sinh những tác động tiêu cực như làm giảm cơ hội việc làm lương cao của lao động bản địa, tạo ra khoảng cách văn hóa và nguy cơ bất ổn xã hội. Tại Việt Nam, nền kinh tế phát triển năng động đã thu hút nhiều chuyên gia và lao động quốc tế. Năm 2016, Việt Nam được xếp hạng thứ 19 trên thế giới và đứng thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á (sau Singapore) về môi trường làm việc của người lao động nước ngoài; 35% người lao động nước ngoài được khảo sát cho rằng thu nhập tại Việt Nam tốt hơn tại quê nhà. Động lực làm việc tại Việt Nam gồm tìm kiếm thách thức mới (46%), điều chuyển nội bộ của người sử dụng lao động (26%) và chất lượng cuộc sống (24%).

Thực tiễn quản lý tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập, như hiện tượng lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp tại các đô thị và dự án lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Tĩnh. Thị trường lao động trong nước đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng, chuyên gia kỹ thuật và nhà quản lý. Về mặt pháp lý, các quy định điều chỉnh người lao động nước ngoài từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Nghị định 233/HĐBT năm 1990, Thông tư 10/LĐTBXH-TT năm 1990, Bộ luật Lao động năm 1994 đến Bộ luật Lao động năm 2012 (tại Mục 3 Chương XI, từ Điều 169 đến Điều 175) cùng Nghị định số 11/2016/NĐ-CP và Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH còn bộc lộ số lượng quy định ít, phân tán, chồng chéo và hiệu lực thi hành chưa cao. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ kết hợp giữa luật lao động và tư pháp quốc tế để xử lý quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Để đạt được mục tiêu này, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích khái niệm người lao động nước ngoài trong điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam để xây dựng định nghĩa khoa học;
  2. Xây dựng khái niệm và xác định các đặc trưng của quan hệ lao động của người lao động nước ngoài;
  3. Làm rõ các vấn đề lý luận về nguyên tắc điều chỉnh, hiện tượng và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật, vai trò của pháp luật trong bối cảnh hội nhập;
  4. Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam, thực tiễn xét xử của Tòa án và đề xuất các kiến nghị lập pháp, giải pháp thực thi.

Văn bản luận án đặt ra và giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu cùng 5 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  1. Câu hỏi 1: Theo quy định của pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế, người lao động nước ngoài là những đối tượng nào? Giả thuyết 1: Việc định nghĩa người lao động nước ngoài theo quy định của pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế dựa trên các tiêu chí nhất định; pháp luật Việt Nam có đưa ra các tiêu chí riêng nhưng quy định chưa thống nhất, rõ ràng và đầy đủ.
  2. Câu hỏi 2: Quan hệ lao động của người lao động nước ngoài có những đặc trưng gì? Giả thuyết 2: Quan hệ lao động của người lao động nước ngoài mang đầy đủ các đặc điểm của quan hệ lao động thông thường, đồng thời có đặc trưng phân biệt là chủ thể mang yếu tố nước ngoài; đây là đối tượng điều chỉnh của cả ngành luật lao động và ngành luật tư pháp quốc tế.
  3. Câu hỏi 3: Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài có vai trò như thế nào trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế? Giả thuyết 3: Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý cho các bên thiết lập, thực hiện quan hệ hợp pháp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài.
  4. Câu hỏi 4: Hiện tượng xung đột pháp luật có xảy ra trong quan hệ lao động của người lao động nước ngoài không? Giả thuyết 4: Hiện tượng xung đột pháp luật có xảy ra trong quan hệ lao động của người lao động nước ngoài; để giải quyết, các quốc gia sử dụng phương pháp xung đột và phương pháp thực chất của tư pháp quốc tế.
  5. Câu hỏi 5: Pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài cần phải sửa đổi, bổ sung như thế nào để tăng hiệu quả điều chỉnh và phù hợp với sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập? Giả thuyết 5: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập, hiệu quả thực hiện thấp; cần xác định định hướng và giải pháp cụ thể sửa đổi quy định, nâng cao hiệu quả thi hành đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các bản án của Tòa án nhân dân tại Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài, kết hợp tham khảo điều ước quốc tế của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam chưa tham gia, cùng pháp luật và án lệ của một số quốc gia. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các khía cạnh lý luận, thực trạng pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Luận án loại trừ không nghiên cứu các vấn đề: người không quốc tịch làm việc tại Việt Nam; cho thuê lại lao động là người nước ngoài; hợp đồng lao động trong lĩnh vực, công việc đặc thù đưa người nước ngoài ra nước ngoài làm việc; hạn chế quyền hành nghề của người lao động nước ngoài sau khi chấm dứt quan hệ lao động; quan hệ lao động tập thể của người lao động nước ngoài; quan hệ lao động của người lao động nước ngoài thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài

  • Về pháp luật điều chỉnh người lao động nước ngoài: Cuốn sách "U.S. Immigration Policy" (Council on Foreign Relations, 2009) phân tích bất cập trong kiểm soát nhập cư và đề xuất chính sách mới; sách "America's Advantage: A Handbook on Immigration and Economic Growth" phân tích toàn diện vai trò kinh tế và thách thức quản lý lao động nhập cư tại Hoa Kỳ; cuốn "Laws for Legal Immigration in the 27 EU Member States" của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) so sánh điều kiện cấp giấy phép làm việc tại 27 quốc gia Liên minh châu Âu; ấn phẩm "Labour migration in Asia: building effective institutions" (2016) do ILO, ADB và OECD phối hợp thực hiện so sánh mô hình quản lý tiền kiểm của Hàn Quốc, Nhật Bản với mô hình hậu kiểm của Singapore; luận văn của Mariya Alyeva phân tích quy định bảo vệ lao động di cư của Liên Hợp Quốc, ILO và kinh nghiệm từ chương trình lao động tạm thời của Hoa Kỳ, Đức, Estonia; bài báo "Labor law and policy issues relating to foreign workers in Japan" phân tích nguyên tắc chọn lọc và nguyên tắc hội nhập trong Luật Kiểm soát nhập cư Nhật Bản.
  • Về xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động: Tác phẩm "International conflicts of labour law: A survey of the law applicable to the international employment relation" (1984) của Morgenstern Felice nghiên cứu nguồn luật, nguyên tắc chọn luật và giới hạn tự do ý chí nhằm bảo vệ người lao động; cuốn "The European Private International Law of Employment" (2015) của Grušić Uglješa cập nhật quy định tư pháp quốc tế của Liên minh châu Âu về thẩm quyền tòa án và bảo vệ lao động yếu thế; bài viết của Marie-Agnès Sabirau-Pérez (2000) trên International Labour Review khảo cứu án lệ của Pháp, Bỉ, Đức về thay đổi luật áp dụng cho hợp đồng lao động quốc tế; bài viết của Emmely de Haan (1992) trên San Diego Law Review phân tích điều khoản ngoại lệ tại Điều 6 Công ước Rome và Điều 8 Quy chế Rome I qua thực tiễn tư pháp Hà Lan và Đức; nghiên cứu của T.K. Cabrita phân tích quy định Hiến pháp Nam Phi và các bản án tại Tòa Lao động (Moslemany v Lever Brothers, Parry v Astral Operations, Klay v Parmalat).
  • Về hợp tác quốc tế trong bối cảnh hội nhập: Các cuốn sách về Cộng đồng Kinh tế ASEAN xuất bản năm 2015 ("The ASEAN economic community: Progress, challenges, and prospects" và "ASEAN community 2015: Managing integration for better jobs and shared prosperity"); báo cáo nghiên cứu mô hình CGE của Plummer M., Petri P. và Zhai F. (2014); bài viết của C.S. Yue (2011), Lavenex (2013), Haisken-DeNew, Heiser và Heal phân tích tác động của các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) đối với dịch chuyển lao động có kỹ năng trong khu vực ASEAN.

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về quản lý lao động nước ngoài: Cuốn sách "Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế" (2014) do Nguyễn Thị Lan Hương chủ biên; cuốn "Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam" (2012) do Phan Huy Đường chủ biên; các luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thọ Hiền (2011), Bùi Thanh Tùng (2012); các bài báo khoa học của Cao Văn Sơn và Ngô Văn Hòa (2013), Nguyễn Thị Thu Hương và Nguyễn Thị Bích Thủy (2013), Phan Huy Đường cùng các cộng sự Tô Hiến Thơ, Đỗ Thị Dung, Đỗ Thị Mỹ Dung (2011), Cao Nhất Định (2006, 2008, 2009), Lưu Bình Nhưỡng (2007, 2009). Các công trình này chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước, thủ tục cấp giấy phép lao động và thanh tra lao động.
  • Về hợp đồng lao động: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Ba (2017) nghiên cứu hợp đồng lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhưng chưa đi sâu vào quy tắc xác định luật áp dụng trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Dân sự năm 2015; cuốn sách và các bài viết của Nguyễn Hữu Chí (2003, 2013) cùng Bùi Thị Kim Ngân (2013) về giao kết và chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Về hội nhập và di chuyển lao động quốc tế: Các bài báo của Đỗ Quỳnh Chi (2005) về di chuyển thể nhân trong đàm phán WTO; Hoàng Xuân Hòe (2006) về dịch chuyển nhân công toàn cầu; Lê Quang Trung (2005, 2007) về phát triển nguồn nhân lực; Nguyễn Mạnh Cường (2005, 2006) về tiêu chuẩn lao động quốc tế khi gia nhập WTO.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Thứ nhất, khắc phục cách tiếp cận đơn lẻ, phân tán ở các nghiên cứu trước bằng một công trình hệ thống hóa toàn diện quan hệ lao động của người lao động nước ngoài dưới lăng kính kép của Luật Lao động và Tư pháp quốc tế. Thứ hai, giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật và nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng lao động quốc tế tại Việt Nam – vấn đề mà các công trình trong nước trước đó còn bỏ ngỏ. Thứ ba, phân tích thực trạng văn bản và thực tiễn xét xử của Tòa án Việt Nam trong bối cảnh tương thích với các điều ước quốc tế, các cam kết khu vực ASEAN và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước được thể chế hóa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 của Hội nghị Trung ương 4 Khóa XII về hội nhập kinh tế quốc tế, cùng Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và 2010-2020.

Khung phân tích lý thuyết của đề tài kết hợp giữa lý luận quan hệ lao động và lý thuyết chọn luật của tư pháp quốc tế, bao gồm các khái niệm về người lao động nước ngoài, quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, xung đột pháp luật, quy phạm thực chất, quy phạm xung đột, nguyên tắc không phân biệt đối xử và nguyên tắc đối xử quốc gia.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng hệ thống các phương pháp định tính và khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý: Sử dụng để giải thích các thuật ngữ pháp lý, phân tích ngữ nghĩa các điều khoản trong văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử của Việt Nam; so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO, Liên Hợp Quốc và pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước EU).
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khía cạnh lý luận, cấu trúc quan hệ pháp lý và từng nhóm quy phạm điều chỉnh việc thiết lập, thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động.
  • Phương pháp chứng minh: Viện dẫn các số liệu điều tra thị trường lao động, các báo cáo thanh tra thực tế và các bản án cụ thể của Tòa án Việt Nam để làm sáng tỏ các luận điểm.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực tiễn từ các báo cáo chuyên đề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, rút ra các nhận định, kết luận ở từng chương.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Nhận diện xu hướng vận động của thị trường lao động quốc tế và định hướng hoàn thiện khung pháp lý trong tương lai.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Đầu tư 1987, Bộ luật Lao động 1994, 2012; Bộ luật Dân sự 2015; Nghị định số 11/2016/NĐ-CP; Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH); các điều ước quốc tế (Công ước ICRMW 1990, Quy chế Rome I năm 2008 của EU, các công ước cơ bản của ILO, các hiệp định MRA trong ASEAN, các hiệp định tương trợ tư pháp); các bản án tranh chấp lao động cá nhân của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam; dữ liệu khảo sát và báo cáo quản lý lao động nước ngoài của các cơ quan nhà nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba mảng lớn: quản lý lao động nước ngoài, hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài và tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới thị trường lao động. Luận án chỉ ra rằng các công trình nước ngoài có hàm lượng phân tích sâu về lý luận xung đột pháp luật và kinh nghiệm xây dựng chính sách nhập cư, kiểm soát thị trường. Tại Việt Nam, phần lớn các công trình dừng lại ở góc độ hành chính hoặc luật lao động thuần túy, chưa đánh giá thỏa đáng khía cạnh tư pháp quốc tế khi Bộ luật Lao động 2012 và Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực. Trên cơ sở nhận diện các khoảng trống tri thức, chương này xác lập sự cần thiết của đề tài, làm rõ tính độc lập của nghiên cứu và luận giải hệ thống các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về quan hệ lao động của người lao động nước ngoài và pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Về khái niệm, tác giả phân tích ba tiêu chí định danh người lao động nước ngoài: quốc tịch, khả năng di chuyển và tư cách pháp lý trong quan hệ lao động. Trích dẫn Điều 2 Công ước ICRMW 1990 và Điều 1101(a)(3) Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ, luận án làm rõ tiêu chí quốc tịch là tiêu chí nền tảng. Luận án định nghĩa quan hệ lao động của người lao động nước ngoài là quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động không mang quốc tịch của quốc gia nơi làm việc với người sử dụng lao động, được xác lập dựa trên cơ sở thuê mướn, sử dụng lao động và trả công.

Đặc trưng cơ bản của quan hệ này là tính chất có yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể, chịu sự tác động đồng thời của pháp luật quốc gia tiếp nhận, pháp luật quốc gia xuất xứ và các điều ước quốc tế. Luận án phân tích hệ thống nguyên tắc cơ bản gồm: nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận hợp pháp của các bên và nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Chương 2 cũng phân loại nguồn luật (pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia) và phân tích hiện tượng xung đột pháp luật trong quan hệ hợp đồng lao động quốc tế, chỉ ra hai phương pháp giải quyết là phương pháp quy phạm xung đột (chọn luật) và phương pháp quy phạm thực chất.

Tiêu chí phân tích Mô hình quản lý tiền kiểm (Hàn Quốc, Nhật Bản) Mô hình quản lý hậu kiểm (Singapore)
Trọng tâm quản lý Kiểm soát chặt chẽ điều kiện tuyển dụng, hạn ngạch và thẩm định tư cách ngay từ giai đoạn cấp phép nhập cảnh. Nới lỏng thủ tục gia nhập thị trường ban đầu cho lao động trình độ cao, tập trung thanh tra, kiểm toán hoạt động sử dụng lao động thực tế.
Thủ tục hành chính Yêu cầu khắt khe về hồ sơ, chứng chỉ nghề nghiệp, kiểm tra nhu cầu thị trường lao động trong nước trước khi cấp phép. Ứng dụng quản trị số, linh hoạt theo cơ chế hạn ngạch và mức thuế sử dụng lao động nước ngoài, xử phạt nghiêm vi phạm sau cấp phép.
Mục tiêu ưu tiên Bảo vệ tuyệt đối cơ hội việc làm của công dân sở tại, hạn chế tối đa nguy cơ nhập cư trái phép. Thu hút tối đa nhân tài quốc tế phục vụ cạnh tranh kinh tế kết hợp chế tài xử phạt nặng đối với vi phạm.

Chương 3: Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3 rà soát, đánh giá toàn diện hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan. Trong khuôn khổ quốc tế, tác giả phân tích quy định bảo vệ quyền lao động cơ bản trong các công ước của ILO, hiệp định tương trợ tư pháp và các thỏa thuận MRA trong ASEAN về công nhận kỹ năng đối với 8 nhóm ngành nghề.

Đối với pháp luật Việt Nam, tác giả phân tích các giai đoạn của quan hệ lao động:

  • Thiết lập quan hệ lao động: Điều kiện tuyển dụng, thủ tục cấp giấy phép lao động (GPLĐ) theo Bộ luật Lao động 2012, Nghị định 11/2016/NĐ-CP và Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH. Tác giả phát hiện quy định còn mang nặng cơ chế hành chính, thủ tục phức tạp nhưng việc xác định tiêu chí "chuyên gia", "lao động kỹ thuật" còn mơ hồ, dẫn đến kẽ hở cho lao động phổ thông nước ngoài tràn vào qua các gói thầu xây dựng.
  • Thực hiện quan hệ lao động: Các quy định về tiền lương, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động và đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người nước ngoài.
  • Thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt quan hệ lao động: Các căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động đương nhiên khi giấy phép lao động hết hiệu lực (Điều 174 BLLĐ 2012) và mối tương quan giữa thời hạn hợp đồng lao động với thời hạn giấy phép lao động (tối đa 2 năm).
  • Xác định pháp luật áp dụng và giải quyết tranh chấp: Phân tích sự thiếu vắng quy tắc chọn luật chuyên biệt cho hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động 2012; việc viện dẫn quy định chung tại Phần thứ năm Bộ luật Dân sự 2015 chưa bao quát được tính chất đặc thù của quan hệ lao động nhằm bảo vệ bên yếu thế. Qua phân tích thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân, tác giả chỉ ra sự lúng túng của các thẩm phán khi giải quyết các vụ án lao động có yếu tố nước ngoài liên quan đến thỏa thuận chọn luật nước ngoài và thẩm quyền giải quyết.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam

Chương 4 đánh giá thực trạng thi hành: công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng lao động nước ngoài còn thưa thớt, năng lực thanh tra hạn chế, sự phối hợp giữa cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an và Quản lý xuất nhập cảnh thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng người nước ngoài nhập cảnh bằng thị thực du lịch, thương mại rồi ở lại làm việc không phép diễn biến phức tạp.

Từ thực trạng đó, chương này đề xuất hai nhóm định hướng và giải pháp:

  • Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung vào Bộ luật Lao động quy định cụ thể về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài theo hướng tôn trọng sự lựa chọn của các bên nhưng không được làm phương hại đến các quyền và điều kiện tối thiểu theo luật lao động Việt Nam; sửa đổi quy định cấp giấy phép lao động theo hướng đơn giản hóa thủ tục đối với chuyên gia trình độ cao, kết hợp chuyển đổi dần từ mô hình tiền kiểm sang hậu kiểm; hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động nước ngoài, thúc đẩy ký kết các hiệp định bảo hiểm xã hội song phương để tránh đóng hai lần.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật: Tăng cường bộ máy và nghiệp vụ thanh tra lao động; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông giữa các bộ, ngành về người lao động nước ngoài; nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài cho hệ thống Tòa án; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Luận án xây dựng khái niệm quan hệ lao động của người lao động nước ngoài và chỉ rõ các đặc trưng pháp lý bản chất dưới góc độ giao thoa giữa ngành luật lao động và tư pháp quốc tế; hệ thống hóa và làm sáng tỏ các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh, đặc biệt là mối quan hệ giữa nguyên tắc không phân biệt đối xử và chủ quyền quốc gia trong quản lý thị trường lao động; phân tích cơ chế giải quyết xung đột pháp luật trong hợp đồng lao động quốc tế.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án đánh giá toàn diện hệ thống quy phạm thực định của Việt Nam trong mối tương quan với các điều ước quốc tế đa phương và song phương; phát hiện những bất cập, mâu thuẫn giữa quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành; phân tích các bản án thực tế của Tòa án nhân dân để chứng minh sự lúng túng trong việc xác định thẩm quyền và chọn luật áp dụng; nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của các quốc gia phát triển (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) để chắt lọc bài học phù hợp cho Việt Nam.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động (bổ sung chế định xác định luật áp dụng cho quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài); cải cách thủ tục cấp giấy phép lao động thông qua phân loại đối tượng chuyên gia thực chất và chuyển dịch từng bước sang cơ chế hậu kiểm; hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động nước ngoài; kiến nghị cơ chế phối hợp liên ngành (LĐTBXH - Công an - Quản lý xuất nhập cảnh) và nâng cao năng lực xét xử tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài của Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án và các biên bản nhận xét của Hội đồng chấm luận án ghi nhận một số điểm giới hạn:

  • Luận án chưa bao quát toàn bộ các trường hợp lao động nước ngoài đặc thù, bao gồm lao động không quốc tịch làm việc tại Việt Nam, lao động nước ngoài dưới hình thức cho thuê lại lao động, quan hệ lao động tập thể của lao động nước ngoài và vấn đề hạn chế quyền hành nghề sau khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Dung lượng phân tích lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ở Chương 2 còn chưa tương xứng đầy đủ với phần thực trạng phân tích bản án tại Chương 3;
  • Vấn đề bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động nước ngoài tại thời điểm bảo vệ mới bước đầu được quy định trong các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, nên tác giả chưa có đủ dữ liệu thực tiễn dài hạn để đánh giá toàn diện tác động kinh tế - xã hội (nội dung này đã được tác giả tiếp thu, chỉnh sửa trong bản giải trình sau bảo vệ);
  • Về mặt hình thức và kỹ thuật, bản thảo ban đầu còn tồn tại lỗi danh mục tài liệu tham khảo và lỗi kỹ thuật trình bày tóm tắt luận án.

Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở các hạn chế nêu trên, các vấn đề mở rộng cần được tiếp tục theo dõi và nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ lao động tập thể (quyền gia nhập công đoàn, đình công) của người lao động nước ngoài tại Việt Nam; đánh giá tác động của các cam kết lao động trong các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đối với việc sửa đổi Bộ luật Lao động trong tương lai; nghiên cứu cơ chế đàm phán và thực thi các hiệp định song phương về tránh đóng bảo hiểm xã hội trùng lặp cho lao động di cư giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác.


Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp và Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội trong quá trình rà soát, sửa đổi Bộ luật Lao động, xây dựng các nghị định mới thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP và hướng dẫn thực thi bảo hiểm xã hội;
  • Cơ quan tư pháp và giải quyết tranh chấp: Là nguồn tham khảo hữu ích cho Tòa án nhân dân các cấp và đội ngũ thẩm phán trong việc nhận diện bản chất quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, xác định thẩm quyền tòa án và phương pháp chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp;
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Luật quốc tế, Tư pháp quốc tế và Luật Lao động tại các cơ sở đào tạo luật học;
  • Cộng đồng doanh nghiệp và luật sư: Hỗ trợ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người sử dụng lao động và các văn phòng luật sư nắm bắt quy định, hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình tuyển dụng, ký kết hợp đồng và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam.

Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống phân tích lý luận chọn luật ở Chương 2, các bình luận thực tiễn áp dụng pháp luật và phân tích án lệ tại Chương 3, cùng hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể tại Chương 4.


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định người lao động nước ngoài dựa trên những tiêu chí pháp lý nào?

Theo phân tích tại Chương 2, luận án chỉ ra hệ thống pháp luật của các quốc gia và điều ước quốc tế sử dụng ba tiêu chí chính để nhận diện người lao động nước ngoài: (1) Tiêu chí quốc tịch (người lao động không mang quốc tịch của quốc gia sở tại nơi làm việc, căn cứ Điều 2 Công ước ICRMW 1990); (2) Khả năng di chuyển xuyên biên giới; (3) Tiêu chí xác định tư cách người lao động trong quan hệ lao động (làm công việc có nhận tiền lương theo sự quản lý của người sử dụng lao động). Trong đó, tiêu chí quốc tịch được xác định là tiêu chí cơ bản và phổ biến nhất.

2. Sự khác biệt căn bản giữa mô hình quản lý lao động nước ngoài của Singapore với Hàn Quốc và Nhật Bản là gì?

Luận án dẫn chứng phân tích từ ấn phẩm nghiên cứu của ILO, ADB và OECD (2016) để chỉ ra rằng: Hàn Quốc và Nhật Bản áp dụng mô hình quản lý tiền kiểm, tập trung siết chặt hạn ngạch, điều kiện tuyển dụng và thẩm định kỹ năng ngay từ giai đoạn xét duyệt cấp phép ban đầu. Ngược lại, Singapore tập trung chủ yếu vào công tác hậu kiểm, ứng dụng quản trị số để đơn giản hóa thủ tục gia nhập ban đầu đối với lao động chuyên môn cao, đồng thời giám sát chặt chẽ hoạt động sử dụng lao động thực tế và áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm sau cấp phép.

3. Luận án ghi nhận những nguyên nhân chủ yếu nào thúc đẩy người lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam?

Trích dẫn số liệu khảo sát năm 2016 được công bố trong văn bản, luận án nêu rõ 35% người lao động nước ngoài nhận thấy thu nhập tại Việt Nam tốt hơn tại quê nhà. Ba động lực phổ biến thúc đẩy họ đến Việt Nam gồm: tìm kiếm thách thức mới trong sự nghiệp (chiếm 46%), chuyển công tác theo quyết định điều chuyển của người sử dụng lao động (chiếm 26%) và mong muốn trải nghiệm chất lượng cuộc sống tại Việt Nam (chiếm 24%).

4. Pháp luật giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật trong quan hệ hợp đồng lao động quốc tế bằng những phương pháp nào?

Luận án trình bày hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật của tư pháp quốc tế: (1) Phương pháp quy phạm thực chất (sử dụng các quy phạm pháp luật nội dung điều chỉnh trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên mà không cần qua khâu chọn luật, thường quy định trong các điều ước quốc tế hoặc luật quốc gia); (2) Phương pháp quy phạm xung đột (sử dụng các quy tắc dẫn chiếu để lựa chọn hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp nhất áp dụng cho hợp đồng lao động, như luật nơi thực hiện hợp đồng, luật do các bên thỏa thuận chọn lựa, có giới hạn nhằm bảo vệ người lao động).

5. Những bất cập chính trong quy định về giấy phép lao động tại Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra rằng các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số 11/2016/NĐ-CP và Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH còn mang tính tiền kiểm nặng nề về hồ sơ hành chính nhưng thiếu hiệu quả thực chất. Tiêu chí xác định "chuyên gia" và "người có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp" còn lỏng lẻo, tạo kẽ hở cho doanh nghiệp đưa lao động kỹ thuật thấp vào làm việc tại các dự án trúng thầu. Đồng thời, cơ chế thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý sau cấp phép chưa đủ mạnh, dẫn đến hiện tượng lao động nước ngoài làm việc trái phép hoặc làm việc không đúng nội dung giấy phép được cấp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thúy Hằng là công trình nghiên cứu chuyên khảo trong chuyên ngành Luật quốc tế, giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận pháp lý, so sánh luật học và phân tích thực tiễn án lệ, tác giả đã làm rõ các đặc trưng của quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, cơ chế giải quyết xung đột pháp luật và những bất cập của khung pháp lý Việt Nam giai đoạn 2012-2019. Các giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao hiệu quả thi hành được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.