Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế đề tài ăng cường công tác bảo trợ xã hội tại huyện chi lăng tỉnh lạng sơn

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế đề tài ăng cường công tác bảo trợ xã hội tại huyện chi lăng tỉnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về công tác bảo trợ xã hội

Công tác bảo trợ xã hội là một phần quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Nó không chỉ giúp đỡ những người gặp khó khăn mà còn góp phần ổn định xã hội. Theo quan niệm, trợ cấp xã hội là sự hỗ trợ từ Nhà nước và cộng đồng nhằm giúp đỡ những đối tượng yếu thế. Đặc biệt, trong bối cảnh huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, việc thực hiện chính sách này càng trở nên cần thiết. Đặc điểm của công tác này bao gồm việc xác định đối tượng thụ hưởng, nội dung chính sách và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả. Đối tượng của công tác này thường là những người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi và những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Chính sách bảo trợ xã hội không chỉ dừng lại ở việc cấp phát tiền mà còn bao gồm các dịch vụ xã hội khác như y tế, giáo dục và hỗ trợ việc làm.

1.1. Quan niệm về công tác trợ cấp xã hội

Công tác trợ cấp xã hội được hiểu là sự giúp đỡ cho những người gặp khó khăn trong cuộc sống. Điều này thể hiện rõ trong các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo rằng mọi người đều có thể tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Theo thống kê, có hàng triệu người dân được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với các đối tượng yếu thế. Việc thực hiện chính sách này không chỉ giúp cải thiện đời sống vật chất mà còn nâng cao tinh thần cho những người thụ hưởng. Đặc biệt, trong bối cảnh huyện Chi Lăng, chính sách này đã góp phần giảm bớt khoảng cách thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

II. Thực trạng công tác bảo trợ xã hội tại huyện Chi Lăng

Tình hình bảo trợ xã hội tại huyện Chi Lăng cho thấy nhiều điểm tích cực nhưng cũng tồn tại không ít khó khăn. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chính sách này. Huyện Chi Lăng có nhiều đối tượng cần được hỗ trợ, từ người cao tuổi đến trẻ em mồ côi. Tuy nhiên, việc triển khai chính sách còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác bảo trợ xã hội cho thấy rằng mặc dù có nhiều đối tượng được hưởng trợ cấp, nhưng mức độ hỗ trợ vẫn chưa đủ để đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho họ. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Chi Lăng

Huyện Chi Lăng có đặc điểm kinh tế - xã hội khá đa dạng, với nhiều thách thức trong việc phát triển. Dân số đông, nhiều hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những hộ có người tàn tật hoặc người cao tuổi không có nguồn thu nhập ổn định. Tình hình này đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết về bảo trợ xã hội. Các chính sách hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, do đó cần có sự điều chỉnh và cải thiện để đảm bảo rằng mọi người đều có thể tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

III. Đề xuất giải pháp tăng cường công tác bảo trợ xã hội

Để tăng cường công tác bảo trợ xã hội tại huyện Chi Lăng, cần có những giải pháp cụ thể và khả thi. Đầu tiên, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về chính sách bảo trợ xã hội là rất quan trọng. Tuyên truyền giáo dục sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình. Thứ hai, cần tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách tại cơ sở. Việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho cán bộ sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo rằng chính sách được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

3.1. Định hướng hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội

Định hướng hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội tại huyện Chi Lăng cần tập trung vào việc xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả. Mục tiêu là đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cần có sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ phía người dân. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của chính sách mà còn tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng.

01/03/2025
Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế đề tài ăng cường công tác bảo trợ xã hội tại huyện chi lăng tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN 1. Cơ sở lý luận về công tác bảo trợ xã hội 1. Quan niệm công tác trợ cấp xã hội Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người c ng gặp những thuận lợi, may mắn mà ngược lại, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà con người luôn bị đ dọa trước những biến cố, rủi ro, bất hạnh,… Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Do đó, có thể nhận thấy, trợ cấp xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn.

Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của trợ cấp xã hội, hầu hết các nước đều tổ chức thực hiện trợ cấp xã hội bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện ph hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán,… của mình. Th o thống kê của ILO trong các tài liệu về an sinh xã hội, trong số trên 170 nước thiết lập hệ thống an sinh xã hội thì chế độ trợ cấp xã hội đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu. Thậm chí một số nước như Đức, Pháp, Anh,… còn xác định trợ cấp xã hội cho những người nghèo nhất chính là trọng tâm và mục tiêu chủ đạo của an sinh xã hội.

Ở Việt Nam, mặc d trợ cấp xã hội đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về trợ cấp xã hội trong các văn bản pháp luật. Th o cách hiểu thông thường thì đó là “sự giúp đỡ cho qua khỏi cơn nguy khốn hay “giúp cho qua khỏi cơn ngặt nghèo, khó khăn. Về ngữ nghĩa, thì đa số các nhà khoa học cho rằng cụm từ này gồm hai nhóm từ gh p là “cứu trợ xã hội và “trợ giúp xã hội. Chính sách trợ cấp xã hội là một bộ phận của chính sách an sinh xã hội nhằm trợ giúp cho đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn đang sống ở cộng đồng do xã, phường quản lý, thông qua hình thức trợ cấp thường xuyên hàng tháng một khoản tiền nhất định để mua lương thực, thực phẩm, đảm bảo duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu.

Tóm lại, dựa trên những quan điểm của ILO nói chung và ở Việt Nam nói riêng, có thể hiểu: Trợ cấp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện 6 pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng vì nhiều nguyên nhân khác nhau bị lâm vào cảnh bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, … dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Đặc điểm công tác trợ cấp xã hội Đặc điểm công tác trợ cấp xã hội là hoạt động vận dụng các chế độ hỗ trợ của Nhà nước cho các nhóm dân cư không có thu nhập, đang phải sống dưới mức tối thiểu mức nghèo), phụ thuộc vào mục tiêu phát triển của quốc gia nhằm giúp cho các đối tượng tự vươn lên thoát khỏi khó khăn. Chính sách trợ cấp xã hội là loại trợ cấp thường xuyên, trong khoảng thời gian khó khăn nhất định khác với các chính sách trợ cấp khác có thể thực hiện một lần như chế độ bảo hiểm xã hội đối với người mất việc làm, tai nạn lao động, tuất thường, …), không phải là chính sách vĩnh viễn cả đời như chính sách đối với người có công, hay lương hưu, trợ cấp mất sức lao động. Thời gian để được trợ cấp của từng đối tượng cụ thể phụ thuộc vào nguồn thu nhập và khả năng phục hồi sức lao động.

Chế độ trợ cấp xã hội khác với các chế độ tiền lương, chế độ hưu trí, chế độ chính sách đối với người có công, các chế độ chính sách xã hội khác là nó được xác lập trên cơ sở của chính sách phân phối lại th o quan điểm trợ giúp một phần của Nhà nước và xã hội. Nhà nước có điều kiện thì trợ giúp nhiều, không có điều kiện thì trợ giúp một phần. Còn tiền lương được dựa trên cơ sở quan hệ lao động và thị trường lao động cung và cầu lao động); lương hưu dựa sự đóng góp sự tham gia); chế độ của người có công dựa vào sự đóng góp của chính cá nhân và gia đình đối với đất nước. Có sự khác biệt về bản chất của chính sách nhưng việc hình thành chế độ trợ cấp xã hội phải dựa vào mặt bằng tiền lương, lương hưu và các chế độ đối với người có công, các chế độ chính sách hỗ trợ xã hội khác của Nhà nước.

Chế độ trợ cấp xã hội tại cộng đồng có thể được quy đổi hiện vật tương đương gạo, thóc, ngày công lao động,…), hoặc các chi phí để tiêu d ng hàng hóa công cộng của xã hội, không phải tất cả các chi phí chi tiêu được tính cả vào chế độ trợ cấp mức 7 hàng tháng). Hiện tại mức trợ cấp không bao gồm các chi phí y tế, giáo dục, văn hoá xã hội,. Phần chi phí cần chi tiêu này của đối tượng xã hội được thực hiện thông qua hệ thống chính sách miễn giảm. Việc thực hiện chế độ trợ cấp xã hội thông qua hệ thống cơ quan hành chính của Nhà nước, được phân cấp xuống đến cấp xã.

Hệ thống th o dõi giám sát, đánh giá và thực hiện chính sách do cơ quan Nhà nước thực hiện. Cấp xã có nhiệm vụ lập danh sách đối tượng, cân đối ngân sách thực hiện trợ cấp cho các đối tượng. Việc thực hiện chế độ trợ cấp xã hội khác với Bảo hiểm xã hội là thiết lập quỹ và hệ thống tổ chức chi trả của quỹ hoặc c ng khác với các chính sách người có công là cấp địa phương chỉ là cơ quan thực thi chính sách, còn kinh phí cấp từ Trung ương. Có nghĩa là khác nhau về cơ chế tài chính và thể chế tổ chức thực hiện.

Các nguồn hỗ trợ khác từ cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, họ hàng, người thân trực tiếp cho đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội được coi là hỗ trợ cộng đồng, không phải chế độ trợ cấp. Nếu cộng đồng đã hỗ trợ cho đối tượng có được cuộc sống thì nhà nước không cần trợ cấp. Điều này thể hiện quan điểm xã hội hóa các hoạt động xã hội, chỉ có những người không tự lo được cuộc sống và không có những trợ giúp khác từ cộng đồng nhà nước mới trợ cấp. Đối tượng của công tác trợ cấp xã hội Đối tượng tham gia vào quan hệ trợ cấp xã hội bao gồm Nhà nước, các đối tượng trợ cấp và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này.

Trong đó: Đối tượng trợ cấp xã hội là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ, … hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đ dọa. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người “yếu thế trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân. Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về vật chất. Ngoài ra dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, mại dâm, lang thang, ăn xin,… Nhà nước với tư cách là một chủ thể trong quan hệ trợ cấp xã hội, đã xác định được nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân,… trong 8 hoạt động trợ cấp xã hội.

Hoạt động trợ cấp xã hội, ngoài trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn là trách nhiệm của các Bộ, ban ngành khác như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo,… và toàn thể các thành viên xã hội,… 1. Tiêu chí xác định đối tượng trợ cấp xã hội Hiện tại ở nước ta có nhiều văn bản quy định về các đối tượng trợ giúp xã hội, đối tượng trợ cấp xã hội, như: Luật người cao tuổi; Luật người khuyết tật; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ m và các văn bản dưới luật. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện chính sách có sự nhầm lẫn về tiêu chí xác định đối tượng, đã dẫn đến thực tế ở nhiều tỉnh là đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội không được trợ cấp mà đối tượng không thuộc diện trợ cấp lại được trợ cấp. Để khắc phục hạn chế này cần phải làm rõ khái niệm đối tượng trợ cấp xã hội thường xuyên và đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất, tiêu chí xác định và phân biệt giữa hai nhóm đối tượng này.

- Đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất: Đối tượng xã hội hay đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất là một bộ phận hay nhóm dân cư do các nguyên nhân chủ quan, khách quan gặp tác động phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động và cuộc sống mà cần đến có sự trợ giúp của cộng đồng, Nhà nước thì mới có thể đảm bảo cuộc sống như những người bình thường khác. Th o quy định hiện hành đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất bao gồm có: người cao tuổi, người khuyết tật, người lang thang, xin ăn; trẻ m đặc biệt khó khăn trẻ m mồ côi, trẻ m khuyết tật, trẻ m lang thang ), người bị nhiễm HIV/AIDS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sỹ Quản Lý Kinh Tế: Giải Pháp Tăng Cường Bảo Trợ Xã Hội Tại Huyện Chi Lăng, Lạng Sơn là một nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống bảo trợ xã hội tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng hiện tại mà còn đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện chính sách bảo trợ xã hội, đặc biệt là đối với các nhóm yếu thế trong xã hội. Đọc giả sẽ có cái nhìn toàn diện về các thách thức và cơ hội trong việc thực hiện các chính sách này, đồng thời nhận được những gợi ý thiết thực để áp dụng trong thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề bảo trợ xã hội, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến nhóm người cao tuổi, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo trợ xã hội cho người trên 80 tuổi và thực tiễn thi hành tại quận 10 thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn pháp lý và thực tiễn về việc bảo trợ xã hội cho người cao tuổi, giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.