phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 9 C ương : Những vấn đề lý luận về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự. C ương : Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi và thực tiễn thực hiện. C ương : Nhu cầu, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi và nâng cao hiệu quả thực hiện. 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của lấy lời khai bị hại là ngƣời dƣới 18 tuổi trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi Khi nghiên cứu hoạt động lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi, tác giả thấy rằng, hiện nay, một số thuật ngữ pháp lý liên quan đến bị hại là người dưới 18 tuổi vẫn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu. Do đó, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả xin đưa ra và phân tích một số khái niệm để làm rõ hoạt động lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi. Bị hại là một khái niệm mang tính tương đối trong khoa học pháp lý về TTHS.
Tùy theo quan điểm của nhà làm luật qua các thời kỳ mà pháp luật TTHS sẽ quy định khác nhau về khái niệm bị hại. Có thể nói, bị hại chỉ là một trong số những chủ thể bị thiệt hại trong TTHS bởi có rất nhiều chủ thể bị thiệt hại về vật chất lẫn phi vật chất do tội phạm gây ra. Ngoài ra, chính khái niệm bị hại cũng có những quan điểm khác nhau như có những quan điểm chỉ coi bị hại là cá nhân nhưng cũng có nhiều quan điểm cho rằng bị hại gồm cả tổ chức, pháp nhân. Người bị hại là thuật ngữ pháp lý sử dụng đối với cá nhân bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc về tài sản gây ra bởi một tội phạm.
Từ điển Tiếng Việt giải thích thuật ngữ người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh 1 thần do tội phạm gây ra” , còn theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học pháp lý người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân, bị người phạm tội làm thiệt hại về 2 thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”. Thuật ngữ “bị hại” dùng để chỉ một sự thiệt hại, mất mát, có thể là thiệt hại về thể chất như tính mạng, sức khoẻ của một người; tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt của cá nhân hay tổ chức; cũng có thể là bị thiệt hại về tinh thần hoặc thiệt hại về các quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Với việc dùng thuật ngữ “bị” thể hiện những tác động gây ra thiệt hại phải mang 1Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng năm 2004, tr.
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, tr. 11 tính tiêu cực từ bên ngoài mà cá nhân hay tổ chức không mong muốn tiếp nhận nó. Trong khoa học pháp lý hình sự trước đây chỉ đề cập bị hại là con người cụ thể, là người bị thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội của tội phạm.
Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh 3 thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Quy định này chưa làm rõ những vấn đề quan trọng như: thiệt hại do tội phạm gây ra có bao hàm những thiệt hại gián tiếp? Có được xem là người bị hại trong những trường hợp phạm tội chưa đạt? Vấn đề này cần căn cứ vào các loại cấu thành tội phạm cũng như tính chất của sự thiệt hại để xác định người bị hại. Trong khoa học luật hình sự: Đối với các loại tội phạm có cấu thành vật chất bắt buộc phải có hậu quả xảy ra và hậu quả đó thường là thiệt hại về thể chất và vật chất. Trong trường hợp này sự thiệt hại gây ra cho người bị hại phải là thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, những thiệt hại cụ thể và xác định, thiệt hại đó có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội.
Đối với các tội có cấu thành hình thức thì thiệt hại gây ra cho người bị hại thường là thiệt hại về tinh thần, vì vậy thiệt hại đó có thể không cụ thể, khó định lượng. Ở nội dung này Ts. Lê Nguyên Thanh trong luận án tiến s luật học của mình với đề tài “Người bị thiệt hại do tội phạm gây 4 ra trong TTHS Việt Nam” phân tích rất cụ thể đã nêu ra các quan điểm khác nhau xác định người bị hại trong trường hợp người đã bị tội phạm đe dọa gây ra thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Tác giả đồng tình với TS.
Lê Nguyên Thanh khi cho rằng dấu hiệu “đã thực tế bị thiệt hại” không phải là dấu hiệu bắt buộc của người bị hại. Chỉ cần có hành vi phạm tội đe dọa gây ra thiệt hại cho một người được xác định thì người đó là người bị hại mà không nhất thiết đã bị thiệt hại hay chưa và tội 5 phạm đó có cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức. BLTTHS năm 2015 ra đời là một bước tiến mới trong công tác lập pháp, đã có những quy định hợp lý, toàn diện và phù hợp với pháp luật quốc tế về quyền con người. Đặc biệt đối với bị hại, BLTTHS năm 2015 quy định không chỉ bao gồm cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản như quy định tại BLTTHS năm 2003 mà còn bao gồm cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
Điều này giúp khắc phục hạn chế của BLTTHS 3 Điều 51 BLTTHS năm 2003. 4 Lê Nguyên Thanh (2012), Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, luận án tiến s luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 5 Nguyễn Thế Thắng (2019), Lấy lời khai của bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn thạc s luật học, Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh, tr. 12 năm 2003, tạo sự công bằng về địa vị pháp lý cho cá nhân, cơ quan và tổ chức bị tội 6 phạm gây thiệt hại. Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc cơ quan, tổ chức bị 7 thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, tác giả xin được nhắc đến thuật ngữ “bị hại” dưới góc độ là cá nhân (người bị hại).
Sau khi nghiên cứu các quan điểm và nhận thức về bị hại theo quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về bị hại như sau: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Nếu bị hại là dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì cha, mẹ, người giám hộ của họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại. Trong trường hợp bị hại chết thì cha, mẹ, vợ, chồng, con của bị hại tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của bị hại”. Cùng với khái niệm bị hại, tác giả đi sâu vào tìm hiểu thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để làm rõ hơn chủ thể của đề tài nghiên cứu.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 (Quy tắc Havana) lại định ngh a một cách đơn giản 8 hơn: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Ủy ban Quyền con người nhấn mạnh rằng trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), giới hạn độ tuổi chưa thành niên được xác định bởi từng quốc gia thành viên phụ thuộc vào yếu tố xã hội, văn hóa và những điều kiện khác nhưng theo quan điểm của cơ quan này thì tất cả những người dưới 18 tuổi nên được đối xử như 9 người chưa thành niên ít nhất trong các vấn đề liên quan đến tư pháp hình sự. Như vậy, có thể từ lúc đầu thuật ngữ người chưa thành niên trong khung pháp lý của Liên Hợp Quốc bao gồm cả nhóm người nhất định trên 18 tuổi nhưng về sau dựa 6 Lê Huỳnh Tấn Duy, Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản trong phần thứ nhất: “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bài viết trong Võ Thị Kim Oanh (Chủ biên, 2016), Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật TTHS năm 2015, Nxb Hồng Đức, tr.
7 Khoản 1 điều 62 BLTTHS năm 2015. 8 The UN Rules for the Protection of Juveniles Deprived of their Liberty (“Havana Rules”), adopted by the General Assembly resolution 45/113 of 14 December 1990, A/RES/45/113, Article 11. 9 UN Human Rights Committee (HRC), CCPR General Comment No.21: Replaces general comment 9 concerning humane treatment of persons deprived of liberty (Artcle 10), 10 April 1992, paragraph 13. 13 trên khái niệm trẻ em trong Công ước về Quyền trẻ em, các cơ quan của Liên Hợp Quốc đã sử dụng thuật ngữ trẻ em phổ biến hơn và có phần nào tương đồng với 10 thuật ngữ người chưa thành niên trong các văn bản, tài liệu của mình.
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên được quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người chưa thành niên là người chưa 11 đủ 18 tuổi”. Trong khi pháp luật dân sự lấy độ tuổi để xác định tư cách chủ thể của người tham gia quan hệ pháp luật thì pháp luật hình sự lại dựa vào độ tuổi để xác định tư cách chủ thể chịu trách nhiệm hình sự.