Lời mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 3 chƣơng: - Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam. - Chƣơng II: Những Quy định của pháp luật Việt Nam về Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân. - Chƣơng III: Thực tiễn và những kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật về “Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân” Danh mục tài liệu tham khảo 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN. Khái niệm nguyên tắc Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử của loài ngƣời, bảo hộ là một khái niệm đã hình thành từ rất lâu, song chủ yếu đƣợc sử dụng trong lĩnh vực chính trị. Bảo hộ lúc đó không chỉ mang ý nghĩa thuần túy của nó là giữ gìn, che chở (bảo là giữ gìn, hộ là che chở) mà còn có nghĩa nhƣ áp đặt và cai trị. Tuy nhiên ý nghĩa của từ bảo hộ chúng ta đang nghiên cứu ở đây không mang ý nghĩa nhƣ vậy. Theo từ điển Tiếng việt “bảo hộ” có nghĩa là: “bảo vệ, giữ gìn, che chở, không để bị tổn thất”; “nguyên tắc” có nghĩa là: “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm”.
Nhƣ vậy “nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân” chính là những tƣ tƣởng, chỉ đạo nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích chính đáng của công dân trƣớc những hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại và bảo đảm cho các quyền đó đƣợc thực thi một cách đầy đủ. Trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân là một trong những nguyên tắc hàng đầu đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta quan tâm, xây dựng từ Hiến pháp đầu tiên của nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa năm 1946, cho đến các văn kiện pháp lý sau này. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trƣờng hợp phạm tội qủa tang.
Việc bắt và giam 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữ ngƣời phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Việc bảo vệ những quyền cơ bản này của công dân đồng nghĩa với việc đảm bảo cho xã hội đƣợc ổn định và phát triển. Chính vì lẽ đó, không chỉ quy định trong Hiến pháp, nhà nƣớc ta còn ban hành những văn bản pháp luật hình sự để điều chỉnh, bảo hộ vấn đề này.
Điều này đƣợc thể hiện rõ tại Điều 7 - Bộ luật TTHS năm 2003 và thể hiện sự điều chỉnh chi tiết trong BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định rõ các loại tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và chế tài xử lý. Cụ thể trong Bộ luật này khẳng định việc nhà nƣớc bảo hộ các quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân ghi nhận tại Chƣơng XII (từ điều 93 đến 122) và Chƣơng XIV (từ điều 133 đến 145). Không chỉ trực tiếp quy định tại hai chƣơng này, việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân còn gián tiếp thể hiện qua nhiều Chƣơng khác của BLHS ví dụ nhƣ các chƣơng về tội phạm ma túy,các tội vi phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng hay các tội phạm về chức vụ… Dù đƣợc quy định trực tiếp tại hay gián tiếp tại các chƣơng, điều khác của BLHS thì các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân đều chung một đối tƣợng, đều lấy tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản làm mục tiêu tấn công. Nhƣ ta đã biết “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm” đều là các quyền gắn liền với nhân thân của con ngƣời và không thể chuyển giao, vì thế nó đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân.
Nó chính là những quyền cơ bản nhất, quan trọng và quý giá mà một con ngƣời đang sống cần đƣợc hƣởng, do đó việc bảo vệ các quyền này không chỉ là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm của nhà nƣớc nhằm duy trì sự ổn định cho xã hội và tạo tâm lý an tâm cho ngƣời dân. Bên cạnh các quyền nêu trên, quyền của công dân về “tài sản” cũng là một trong các quyền quan trọng cần 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo vệ. Việc tài sản của công dân bị các hành vi phạm tội xâm hại thực chất diễn ra rất phổ biến trong thực tế. Nó không chỉ ảnh hƣởng đến kinh tế, lợi ích của một cá nhân mà nó còn ảnh hƣởng lớn đến tâm lý của ngƣời bị hại, trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hƣởng đến các quyền khác của công dân, gây mất trật tự, an toàn xã hội (ví dụ tội cƣớp giật tài sản thì đối tƣợng của hành vi cƣớp giật ở đây là tài sản, tuy nhiên hành vi phạm tội này có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của ngƣời khác nếu nhƣ ngƣời bị hại đang tham gia giao thông).
Vì vậy cũng nhƣ các quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền về tài sản cũng đƣợc pháp luật bảo hộ chặt chẽ. Trong nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân, ngoài việc xác định đối tƣợng đƣợc bảo hộ nhƣ đã nêu ở trên, chúng ta cần xem xét xem chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ các quyền này là ai? Việc nhà nƣớc đặt ra pháp luật để đảm bảo công bằng và quản lý xã hội cũng đồng nghĩa với việc nhà nƣớc chính là chủ thể cao nhất có nghĩa vụ bảo vệ các quyền này của công dân. Tuy nhiên nhà nƣớc là một chủ thể mang tính trừu tƣợng, để chỉ bộ máy công quyền đƣợc giai cấp cầm quyền thiết lập ra nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp đó. Do vậy việc bảo hộ các quyền của công dân sẽ do các cơ quan thực thi pháp luật thực hiện hay cụ thể hơn nữa là các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng.
Một hành vi phạm tội khi nó vi phạm các điều đã quy định trong BLHS đang có hiệu lực và một ngƣời chỉ bị coi là phạm tội khi có phán quyết có hiệu lực của Tòa án. Nhƣ vậy ta có thể thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là chủ thể duy nhất đƣợc phép thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành hành án nhằm mục đích đem lại công bằng và bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho ngƣời bị hành vi phạm tội xâm hại. Bên cạnh việc xác định chủ thể bảo hộ, việc xác định cách thức, biện pháp bảo vệ các quyền nêu trên cũng cần quan tâm tìm hiểu. Nhƣ ta biết pháp luật dƣới góc độ luật học đƣợc hiểu nhƣ là tổng thể các quy tắc xử sự có tính 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất bắt buộc chung do nhà nƣớc đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, đƣợc nhà nƣớc đảm bảo bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cƣỡng chế.
Chính vì nó là những quy tắc chung cho tất cả mọi ngƣời và bắt buộc phải tuân theo, cho nên pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất bảo vệ cho các quyền của công dân. Pháp luật đƣợc thực thi là nhờ hàng loạt các bảo đảm của nó thông qua việc: xác định rõ chủ thể thực thi pháp luật, đối tƣợng đƣợc bảo vệ, các hành vi bị cấm; hệ thống chế tài và hàng loạt các biện pháp khác nhƣ truyền truyên, giáo dục, thuyết phục…Tuy nhiên nói nhƣ vậy không có nghĩa việc bảo vệ các quyền này của công dân chỉ thuộc về nhà nƣớc và pháp luật, mà mỗi ngƣời dân phải có trách nhiệm đối với quyền đƣợc bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản thể hiện qua việc: - Tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của ngƣời khác, không có những hành vi trái quy định của pháp luật hình sự xâm hại đến các quyền này. - Tự bảo vệ quyền của chính mình bằng các hành vi tuân thủ pháp luật của nhà nƣớc, tôn trọng các giá trị đạo đức xã hội và các biện pháp khác. - Nhanh chóng, kịp thời phê phán, tố giác các việc làm sai trái tới các cơ quan thực thi pháp luật nhằm bảo vệ kịp thời các quyền nêu trên.
Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự. Việc quy định nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân khẳng định sự tiến bộ, dân chủ, văn minh của pháp luật. Pháp luật thế giới đã công nhận các quyền của con ngƣời thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 hay Hiến chƣơng Liên Hợp quốc, vì vậy việc pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo hộ cho các quyền đó thể hiện sự tiếp thu những giá trị văn minh về lập pháp của thế giới. Ngoài ra kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, việc thừa nhận ngày càng đầy đủ các quyền nêu trên của mỗi công dân qua từng thời kỳ cho thấy sự tiến bộ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong kỹ thuật lập pháp của nƣớc ta, đáp ứng đƣợc nhu cầu cải cách luật pháp và sự phát triển của xã hội Nguyên tắc này còn góp phần bảo hộ quyền con ngƣời trong luật TTHS, bởi nó nằm trong số các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, mang tính chỉ đạo chung cho mọi hoạt động tố tụng.
Đây là một trong các nguyên tắc cụ thể hóa cho các quyền của con ngƣời trong luật TTHS, vì vậy thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần bảo vệ một cách toàn diện cho các quyền con ngƣời.