Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CÁC CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của quyền con ngƣời 1. Khái niệm quyền con người Trên thế giới, vấn đề quyền con người đã được đề cập đến từ rất sớm, trong Lời nói đầu của bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Liên hợp quốc đã khẳng định: "điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật" [40, tr.62], cũng theo Lời nói đầu trong bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, thì quyền con người đối với các quốc gia thành viên Liên hợp quốc phải [40, tr.63]: 1) Là mục tiêu chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu đạt tới; 2) Tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người, đồng thời tôn trọng và bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và hữu hiệu chúng. Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định giá trị quyền con người: Mọi thành viên trong gia đình, nhân loại đều có quyền bình đẳng và đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được.
Các quyền này được thực hiện không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hay giới tính, đồng thời được ghi nhận chính thức trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948. Tuyên ngôn này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, tuy nhiên việc thực thi Tuyên ngôn này cũng như các công ước về quyền con người tại các quốc gia khác nhau là hết sức linh hoạt, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của mỗi quốc gia. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 là văn kiện pháp lý xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con 8 người trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Thông qua việc thừa nhận Công ước, các quốc gia chấp nhận và tự cam kết đảm bảo thực hiện quyền con người tại quốc gia mình.
Tiếp đó năm 1968, Tuyên bố Tê-hê-ran tại Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Iran đã khẳng định: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã xác nhận một nhận thức chung của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di, bất dịch và không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình, nhân loại và thiết lập một nghĩa vụ cho các thành viên của cộng đồng quốc tế. Hội nghị cũng khẳng định sự tin tưởng với các nguyên tắc được đề cập trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và kêu gọi các dân tộc và các Chính phủ: "phấn đấu cho những nguyên tắc ghi nhận trong Tuyên ngôn và tăng cường hơn nữa những nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người có một cuộc sống phù hợp với tự do và nhân phẩm cũng như sự hạnh phúc về thể chất, tinh thần, xã hội và văn hóa". Việt Nam là một quốc gia tích cực trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, ngoài việc gia nhập Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957), từ năm 1977, sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc (tham gia năm 1981); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức về phân biệt đối xử với phụ nữ (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về quyền trẻ em (tham gia năm 1990); Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (tham gia năm 2007); Công ước 9 quốc tế về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (tham gia năm 2014). Ngoài các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người trên, Việt Nam còn tham gia các công ước quốc tế khác có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Giơ-ne-vơ về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế (tham gia năm 1981), Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng và Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội ác A-pác-thai (tham gia năm 1981).
Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 1994, Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước của tổ chức này như Công ước số 5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia lao động công nghiệp, Công ước số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp, Công ước số 14 về quy định nghỉ hằng tuần cho lao động công nghiệp… Việt Nam cũng tích cực tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, hợp tác nhân quyền trong khuôn khổ Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp. Bên cạnh đó, với tư cách là thành viên ASEAN, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các khuôn khổ hợp tác khu vực về nhân quyền, trong đó có Ủy ban Liên Chính phủ về nhân quyền ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam còn thường xuyên tham gia đối thoại nhân quyền với các nước như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU. Để thực hiện tốt các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm” [19, tr.
Trên tinh thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992, Chỉ thị này đã ghi nhận những quan điểm quan trọng về vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người: 10 Quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Tiếp theo, vào tháng 1/2011, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chính thức đưa ra luận điểm mang tính chỉ đạo về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của các nguyên tắc tiến bộ và dân chủ, cụ thể như: Chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của Nhà nước, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động của bộ máy công quyền [20, tr.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập có chủ quyền, có quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình. Người dân có quyền tham gia vào việc xây dựng và quyết định các quyết sách của đất nước. Quyền bầu cử, ứng cử, ngày càng được phát huy.
Ngoài tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có các tổ chức chính trị - xã hội và nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo lứa tuổi, giới tính, lĩnh vực nghề nghiệp hoạt động thu hút hàng chục triệu hội viên tham gia. Mọi tư tưởng và chính kiến khác nhau được tự do đề đạt có tổ chức. Quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật được tôn trọng. Với số đầu báo, tạp chí tăng nhanh, thông tin đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân.
Hệ thống phát thanh, truyền hình phát triển nhanh, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 11 có đài phát thanh, truyền hình, người dân dễ dàng tiếp nhận thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
Các dân tộc được đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; được tạo cơ hội phát triển như nhau, được duy trì tiếng nói và chữ viết riêng, bảo tồn văn hoá truyền thống. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được nâng cao. Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dân luôn được tôn trọng. Về kinh tế, GDP bình quân đầu người liên tục tăng, tỷ lệ đói nghèo giảm.
Việt Nam đã đạt được mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo giai đoạn 1990 – 2015; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; các chương trình chăm sóc y tế đã thu được kết quả khá. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, được quan tâm; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên từng năm. Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục-đào tạo tăng nhanh, hình thức giáo dục-đào tạo được đa dạng hoá, đã đảm bảo công bằng xã hội trong văn hoá, giáo dục. Lượng thông tin được cung cấp phong phú hơn về số lượng, đa dạng về chủng loại, hấp dẫn hơn về nội dung và hình thức.
Người dân được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại. Các quyền con người về mặt xã hội, đảm bảo công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân ngày càng được phát huy. Đã kết hợp tốt giữa tăng 12 trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Quyền bình đẳng nam, nữ được tôn trọng.
Phụ nữ tham gia công tác xã hội và chính trị ngày càng nhiều, có mặt ở các vị trí lãnh đạo các cấp Trung ương và địa phương.