Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI 1. Khái niệm suy đoán vô tội Từ "presume" trong tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt mang hai nghĩa khác nhau: 1) Suy đoán (dự đoán) và 2) Giả định. Vì vậy, trong khoa học Luật TTHS, nguyên tắc "presumption of innocence" có hai tên gọi khác nhau: Nguyên tắc "suy đoán vô tội" và nguyên tắc "giả định vô tội" [16].
Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi không tranh luận về thuật ngữ mà xem xét nguyên tắc này với tên gọi "suy đoán vô tội" (theo cách gọi phổ biến từ trước tới nay ở Việt Nam) và để làm rõ khái niệm "nguyên tắc suy đoán vô tội", cần xem xét thuật ngữ "suy đoán vô tội" ở hai góc độ: Nguyên tắc SĐVT và chế định SĐVT. * Nguyên tắc suy đoán vô tội: Với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của TTHS, SĐVT được thừa nhận không chỉ trong pháp luật quốc tế mà cả trong pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để làm rõ khái niệm nguyên tắc SĐVT, trước hết cần làm rõ khái niệm "nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự". Đây là vấn đề còn có ý kiến khác nhau.TS Trần Đình Nhã thì việc sử dụng khái niệm "nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự" là sự nhầm lẫn khi coi TTHS và pháp luật TTHS là một.
Các nguyên tắc của TTHS là những chế định pháp lý, được thể hiện bởi những quy phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất của TTHS và mang tính định hướng cho các hoạt động và hành vi TTHS [37].TS Phạm Hồng Hải thì nguyên tắc TTHS là những quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về quá trình giải quyết vụ án hình sự đã được thể chế hóa trong BLTTHS mà các chủ thể tiến hành và 13 Downloaded by B?o H? (hobao0211@gmail.com) lOMoARcPSD|31075046 tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân phải tuân theo. Khi nguyên tắc được quy định trong BLTTHS thì đó là nguyên tắc của TTHS. Nếu tư tưởng, quan điểm nào đó là quan điểm, tư tưởng chủ đạo của Luật TTHS thì chúng cũng là nguyên tắc của Luật TTHS. Ví dụ: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc của TTHS và là nguyên tắc của Luật TTHS [18, tr.
Quan điểm thứ ba thì cho rằng nguyên tắc của TTHS là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, có giá trị pháp lý bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự [21, tr.TSKH Lê Cảm thì nguyên tắc của Luật TTHS là tư tưởng chủ đạo, định hướng cơ bản của hoạt động TTHS được thể hiện trong pháp luật TTHS, trong việc giải thích và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua một quy phạm hay chế định của nó [3, tr. Quan điểm khác lại cho rằng nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS là những tư tưởng, định hướng của hoạt động TTHS thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với quá trình giải quyết vụ án là dân chủ, kỷ cương, theo định hướng XHCN, chi phối toàn bộ quá trình TTHS hoặc chi phối một số giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và có tính ổn định cao [24, tr. Ngoài ra, còn một số quan điểm khác về khái niệm này [61, tr. Chúng tôi đồng tình với PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng có sự khác nhau giữa hai khái niệm "tố tụng hình sự" và "Luật tố tụng hình sự".
Khái niệm "tố tụng hình sự" được hiểu là toàn bộ hoạt động của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Đây là hoạt động mang tính khách quan tồn tại trong xã hội có giai cấp, là đòi hỏi tất yếu của Nhà nước để trừng trị người phạm tội. Còn "Luật tố tụng hình sự" là khái niệm để chỉ tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. "Luật tố tụng hình sự" là một phạm trù chủ quan, là nhận thức hiện tượng khách quan của nhà 14 Downloaded by B?o H? (hobao0211@gmail.com) lOMoARcPSD|31075046 làm luật.
Vì vậy, những phương châm, định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của quá trình TTHS, quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS được gọi là các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS [4, tr. Từ khái niệm "nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự" nêu trên, có thể thấy rằng nội hàm của nguyên tắc SĐVT được quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 thể hiện ở yêu cầu người bị buộc tội phải được coi là vô tội cho đến khi tội phạm của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do luật định và được xác định bằng một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (HLPL). Yêu cầu này dựa trên các giá trị công bằng, bình đẳng và là một bảo đảm quan trọng và hữu hiệu đối với việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người trong tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS. SĐVT đối lập với "suy đoán có tội" là một khuynh hướng diễn ra phổ biến trong hoạt động tư pháp, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc "suy đoán vô tội" được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng oan sai [74, tr.
Từ phân tích trên, có thể khẳng định yêu cầu về SĐVT luôn giữ vai trò định hướng quan trọng và chi phối không chỉ đối với các giai đoạn của quá trình TTHS (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) mà cả đối với giai đoạn tiền tố tụng (trường hợp bắt giữ người bị tình nghi phạm tội) và thi hành án hình sự (trường hợp bản án kết tội của Tòa án đã có HLPL bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm) đồng thời tác động mạnh mẽ đối với quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật. Theo Từ điển Luật học, thì SĐVT là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng của TTHS, theo đó bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tự luật định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có HLPL [83, tr. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng theo pháp luật của một số nước thì bản chất của nguyên tắc này được hiểu là trong mọi trường hợp nếu một người thực 15 Downloaded by B?o H? (hobao0211@gmail.com) lOMoARcPSD|31075046 hiện một hành vi mà hành vi đó còn có ý kiến khác nhau về việc định tội thì phải áp dụng nguyên tắc có lợi cho họ. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử nếu bên "buộc tội" không đưa ra được những bằng chứng xác đáng, mà bên "gỡ tội" lại đưa ra được những bằng chứng chứng minh bị can, bị cáo không phạm tội thì không được truy cứu người có hành vi đó.
Xét về mặt nào đó thì nguyên tắc SĐVT đối lập với nguyên tắc "xác định sự thật của vụ án". Sự thật thế nào thì phải chứng minh, đi tìm, chứ không được "suy đoán" theo bất cứ hướng nào. Nếu ghi nhận nguyên tắc "suy đoán vô tội" cũng tức là không cần đến nguyên tắc "xác định sự thật của vụ án". Và như vậy, bản chất pháp luật của nước ta sẽ bị thay đổi.
Thực chất, nguyên tắc này chỉ để giải quyết vấn đề "thắng - thua"., buộc Hội đồng xét xử (HĐXX) phải chấp nhận "thắng - thua" giữa Luật sư và Kiểm sát viên mà không cần đến sự thật. Chúng tôi cho rằng quan điểm nêu trên về SĐVT là không chính xác và có sự nhầm lẫn trong phân định các chức năng cơ bản trong TTHS giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án. Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ trong mọi trường hợp sự tình nghi một người phạm tội của các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội (Cơ quan điều tra (CQĐT)/ Điều tra viên và Viện kiểm sát (VKS)/ Kiểm sát viên) đều mới chỉ là "giả định", có nghĩa là người bị tình nghi có thể có tội và cũng có thể là không có tội. "Giả định" này phải được chứng minh bằng các chứng cứ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định thông qua việc kiểm tra, xác minh công khai tại phiên tòa với sự tham gia đầy đủ của các chủ thể của bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể khác (người làm chứng, người phiên dịch, giám định viên) dưới sự giám sát của HĐXX.
Tại đây bên buộc tội (Kiểm sát viên, người bị hại) có trách nhiệm chứng minh cho sự cáo buộc của mình bằng các chứng cứ buộc tội mà họ thu thập được, bên bào chữa (Luật sư, bị cáo) cũng đưa ra các chứng cứ gỡ tội để HĐXX xem xét và ra phán quyết kết tội bị cáo hay tuyên bố họ vô tội. Kể cả khi đã có bản án kết tội, thì người bị kết án cũng chỉ bị coi là có tội khi phán 16 Downloaded by B?o H? (hobao0211@gmail.com) lOMoARcPSD|31075046 quyết này có HLPL. Vì vậy, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có HLPL thì các chủ thể tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) không được coi người bị buộc tội là có tội. Yêu cầu này nhằm ngăn chặn mọi sự quy kết vội vã và định kiến đối với người bị buộc tội, tâm lý chủ quan, sự tùy tiện, tắc trách của người có thẩm quyền có thể dẫn đến làm oan người vô tội.
Như vậy, có thể thấy rằng SĐVT không chỉ là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật TTHS mà còn là quyền cơ bản của người bị buộc tội. Theo nguyên tắc này thì người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội tại phiên tòa công khai, nơi bảo đảm những điều kiện cần thiết để bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa và sự xét xử công bằng nhằm bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.