mở đầu, kết luận. Phần nội dung gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quyền con ngƣời, quyền công dân và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền con dân của Viện kiểm sát nhân dân. Chƣơng 2: Nhiệm vụ bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân của Viện kiểm sát nhân dân - Qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân của Viện kiểm sát nhân dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI, QUYỀN CÔNG DÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI, QUYỀN CÔNG DÂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Quan niệm về quyền con ngƣời, quyền công dân và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân 1. Quyền con người và mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân 1. Quyền con người Con ngƣời là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên quyền con ngƣời luôn luôn trở thành nội dung quan trọng thu hút đƣợc sự quan tâm cả về phƣơng diện lý luận cũng nhƣ trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia, của từng khu vực, mang tính toàn cầu Quan niệm về quyền con ngƣời đã đƣợc các nhà tƣ tƣởng bàn đến từ thời cổ đại và không ngừng đƣợc phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại.
Khi bàn đến quyền con ngƣời Jaeque Mourgeon trong cuốn “ Các quyền con ngƣời” đã cho rằng: Quyền con ngƣời trƣớc hết đƣợc hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà con ngƣời có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự vệ. Nhƣng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chƣa phải là quyền con ngƣời. Mà để đạt đến cái gọi là “quyền” thì phải có yếu tố thứ hai là pháp luật.
Chỉ khi đƣợc pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật mới trở thành quyền con ngƣời” [18, tr.131] Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con ngƣời, chủ nghĩa Mác đã xác định “con ngƣời” là “con ngƣời xã hội” bản chất của con ngƣời trong tính hiện thực của nó là sự “tổng hòa các quan hệ xã hội”, cho nên quyền con ngƣời thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó” [2, tr. 11] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở các quan niệm về quyền con ngƣời năm 1776, lần đầu tiên quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ “Tất cả mọi ngƣời sinh ra đều có quyền đƣợc bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đƣợc, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mƣu cầu hạnh phúc” Năm 1791, trong tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, quyền con ngƣời từng bƣớc đƣợc quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nƣớc mình. Ở nƣớc ta, vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và các văn bản pháp luật. Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng “Quyền con người là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng” [10, tr.
Vì vậy theo quan niệm chung hiện nay “Quyền con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [10, tr. Quyền con ngƣời nhìn từ góc độ nào thì cũng đƣợc xác định nhƣ là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội ở các châu lục, các quốc gia phát triển không giống nhau nên các ở các quốc gia khác nhau thì năng lực, nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống. Cho nên ở các quốc gia quyền con ngƣời đƣợc thể hiện thành quyền công dân và đƣợc đảm bảo thực hiện bởi hệ thống pháp luật quốc gia đó.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này, khoa học pháp lý đã chia quyền con ngƣời theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con ngƣời thành các nhóm: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm quyền tự do dân chủ về chính trị, bao gồm: Quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền đƣợc thông tin; quyền tự do tín ngƣỡng. Nhóm quyền dân sự (quyền tự do cá nhân), bao gồm: Quyền tự do đi lại cƣ trú trong nƣớc; quyền ra nƣớc ngoài và từ nƣớc ngoài về nƣớc; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền đƣợc an toàn và bí mật về thƣ tín, điện thoại, điện báo; quyền khiếu nại, tố cáo… Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội, bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp về thừa kế; quyền học tập; quyền nghiên cứu, phát minh sáng chế; quyền đƣợc bảo vệ sức khỏe; quyền đƣợc bảo vệ hôn nhân, gia đình; quyền trẻ em; quyền ngƣời già… Quyền phát triển: quyền phát triển đƣợc Ủy ban Liên hợp quốc chuẩn bị từ năm 1981, đƣợc thông qua tại kỳ họp thứ 41 của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 4/2/1986 dƣới hình thức Tuyên ngôn toàn cầu về phát triển. Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ quyền trên lãnh thổ của mình nhƣ: Quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền đƣợc trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Quyền đƣợc sống trong hòa bình và môi trƣờng trong sạch: Quyền này đang là vấn đề cấp bách của các quốc gia, khu vực và cộng đồng trên thế giới.
Pháp luật quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn đề liên quan đến cuộc sống hòa bình của con ngƣời nhƣ vấn đề giải trừ quân bị, loại trừ vũ khí hạt nhân, ngăn chặn các cuộc xung đột, thành lập các Tòa án quốc tế để xét xử tội diệt chủng. Cùng với sự phát triển công nghệ, loài ngƣời đang đứng trƣớc nguy cơ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com suy thoái và ô nhiễm môi trƣờng ngày càng nặng nề. Để con ngƣời sống trong môi trƣờng trong sạch cần thiết phải đảm bảo: Quyền đƣợc thông tin và nâng cao nhận thức của con ngƣời về môi trƣờng; Quyền đƣợc tham gia hoạch định các chính sách và thể chế bảo vệ môi trƣờng; Quyền đuợc đền bù thiệt hại do sự hủy hoại môi trƣờng gây ra. Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân Cách mạng tƣ sản thắng lợi, ách thống trị “Vƣơng quyền”, “thần quyền” của chế độ phong kiến và thế lực Nhà thờ bị lật đổ, cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc tƣ sản, khái niệm quyền con ngƣời, quyền công dân ra đời.
Lúc này ngƣời dân trong một quốc gia đƣợc xác định là công dân trong xã hội công dân và đƣợc hƣởng các quyền công dân do pháp luật quy định. Vì thế, là sản phẩm của cách mạng tƣ sản, quyền công dân đƣợc xác định trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất của các Nhà nƣớc tƣ sản lúc bấy giờ nhƣ: Tuyên ngôn độc lập nƣớc Mỹ năm 1976, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nƣớc Pháp năm 1789, Luật về quyền công dân ở Anh … Ngày nay cùng với Quyền con ngƣời, quyền công dân đã đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận trong bản Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nhà nƣớc mình và đƣợc đảm bảo thực hiện trong đời sống thực tiễn Cho nên, có thể xác định “Quyền công dân là quyền con ngƣời, là những giá trị gắn liền với một nhà nƣớc nhất định và đƣợc nhà nƣớc đó bảo hộ bằng pháp luật đối với ngƣời mang quốc tịch nƣớc đó, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nƣớc cụ thể” Quyền con ngƣời và quyền công dân là hai khái niệm không đồng nhất. Quyền con ngƣời là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có và chỉ có ở con ngƣời với tƣ cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, đƣợc thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Còn quyền công dân thực chất cũng là quyền con ngƣời đƣợc quốc gia ghi nhận và bảo hộ bằng hệ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống pháp luật của quốc gia đối với công dân nƣớc đó, thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nƣớc đó.
Quyền công dân chính là sự thể chế hóa quyền con ngƣời để phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của mỗi quốc gia. Việc xác định quyền con ngƣời và quyền công dân nằm trong một thể thống nhất đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chế định pháp lý về quyền con ngƣời, quyền công dân trong hệ thống pháp luật của các quốc gia Trong lịch sử xã hội loài ngƣời, sự hình thành và phát triển quyền con ngƣời và quyền công dân đƣợc gắn liền với thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Nó phản ánh nhân loại tự đấu tranh giải phóng cho mình, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội. Vì thế nó luôn đƣợc xác định là tiêu điểm của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị và tƣ tƣởng.
Ngày nay, quyền con ngƣời và quyền công dân đã trở thành tiêu chí cơ bản để đánh giá trình độ phát triển của một chế độ xã hội - về sự văn minh, nhân đạo hay kém văn minh, lạc hậu, đồng thời đó là cơ sở để các quốc gia tổ chức thiết lập các quan hệ quốc tế, vì lợi ích của các bên và lợi ích của bộ phận và toàn cộng đồng nhân loại. Cho nên, có thể nói quyền con ngƣời trong từng quốc gia là quyền công dân của chính quốc gia đó.