phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật TTHS. - Chƣơng 2: Một số quy định cơ bản của pháp luật TTHS thực định Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người. - Chƣơng 3: Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện BLTTHS 2003 nhằm tăng cường việc bảo vệ các quyền con người.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG PHÁP LUẬT TTHS 1. Khái niệm bảo vệ quyền con ngƣời bằng pháp luật TTHS 1. Khái niệm quyền con người Trong lịch sử chính trị - tư tưởng của nhân loại, thuật ngữ quyền con người (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm hoàn toàn thống nhất về quyền con người trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong phạm vi mỗi quốc gia. Trên lập trường duy vật và trên cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, chủ nghĩa Mác- Lênin đưa ra quan niệm về vấn đề quyền con người xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, và do đó quyền con người "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [4, tr.
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" [4, tr.855] có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con người không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người. Xét về mặt xã hội, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội.
Trong luận cương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [4, tr. Do đó xét về khía 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [4, tr. Theo Mác: "Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người" [3, tr. Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người.
Đi kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con người cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội. Mặt khác, quyền con người, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con người, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con người càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con người ngày càng được mở rộng, ngày càng được đảm bảo bấy nhiêu.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người không phải chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con người nêu trên, mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Như vậy, có thể hiểu quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển". Quyền con người "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Quyền con người là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối tương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, khái niệm quyền con người cũng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ việc nghiên cứu bảo vệ quyền con người trong thực tiễn quốc tế cũng như ở Việt Nam đã đưa ra khái niệm đầy đủ và sâu sắc về quyền con người mà theo đó: Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia thành viên liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế” [6, tr.TS Nguyễn Văn Động đưa ra nhận xét chung về quyền con người đó là: a) Là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bởi toàn thế giới đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế; b) Trực tiếp liên quan tới các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người và góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính nhân đạo và nhân văn của con người; c) các quyền con người tạo thành hệ thống thống nhất, quan hệ tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau…[25, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trần Ngọc Đường cho rằng: tựu chung lại, khái niệm về quyền con người được thể hiện ở các loại quan niệm như sau: - Quan niệm thứ nhất, cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên. Trong ý nghĩa ban đầu, thuyết pháp luật tự nhiên ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tự do của con người; khẳng định quyền con người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quan niệm quyền con người tự do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho quyền tự nhiên.
- Quan niệm thứ hai, xem con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Quyền con người với tính chất là thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên, không được đặt ra trong xã hội thị tộc khi chưa có sự vi phạm quyền con người. Chỉ khi xã hội có giai cấp, Nhà nước có sự vi phạm quyền con người thì vấn đề con người mới được đặt ra trước nhân loại. Học thuyết Mác - Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của con người.Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật – xã hội”.
Do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chính các mối quan hệ xã hội. Vì vậy trong điều kiện ngày nay, việc đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền con người phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan: Một là, quyền con người là những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Vì vậy, quyền con 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Hai là, quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính… Ba là, quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể.
Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, dân chí cụ thể… Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn. Và như vậy, “Quan niệm nhân quyền vừa khẳng định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc” [27, tr.2 Khái niệm hoạt động tố tụng hình sự Trong khoa học luật TTHS đang được chấp nhận khá phổ biến khái niệm TTHS như sau: Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của cơ quan THTT, của người THTT, người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật TTHS. Nói cách khác, tố tụng hình sự là hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước Tòa án của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án và hoạt động 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.