phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam. Chƣơng 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa và thực tiễn áp dụng. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Nhận thức chung về bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam Quyền con ngƣời (tiếng Anh: Human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trƣớc đến nay có đến gần 50 định nghĩa về quyền con ngƣời đã đƣợc công bố [45], mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhƣng không định nghĩa nào bao hàm đƣợc tất cả các thuộc tính của quyền con ngƣời. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con ngƣời phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, có một số định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con ngƣời (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu.
Theo định nghĩa này, quyền con ngƣời là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc phép (entilements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con ngƣời [44, tr. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác về quyền con ngƣời mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên là: “quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Hay một cách ngắn gọn nhất theo Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia) thì: Nhân quyền, hay Quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào [45]. Thuật ngữ “Human Rights” trong tiếng Anh đƣợc dịch sang tiếng Việt là “quyền con người” (theo tiếng thuần Việt) hoặc “nhân quyền” (theo Hán – Việt).
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” [42, tr. Trong một cuộc khảo sát gần đây do CNN (một trong các cơ quan truyền thông nổi tiếng nhất thế giới) tiến hành, Nhân quyền đƣợc xem là một trong mƣời sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tƣơng đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng, số không, và lực hấp dẫn. Theo quan điểm của các nhà triết học thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể tƣớc bỏ đƣợc là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự đƣợc thiết lập và không một xã hội hay một Chính phủ nào có thể “xóa bỏ” hoặc “chuyển nhƣợng” các quyền này.
Các quyền không thể tƣớc bỏ bao gồm: Quyền đƣợc sống; Quyền tự do (quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do lập hội,…); Quyền mƣu cầu hạnh phúc và Quyền đƣợc bảo vệ bình đẳng trƣớc pháp luật. Tuy nhiên, đây chƣa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà công dân có 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự nhƣ quyền đƣợc xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ xã hội dân chủ nào cũng phải duy trì. Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào Nhà nƣớc, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng nhƣ không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó.
Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con ngƣời cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhƣng tất cả các nền dân chủ đều đƣợc giao trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho các quyền con ngƣời đó. Hiện nay, quyền con ngƣời đƣợc các nƣớc trên thế giới công nhận và bảo đảm thực hiện thông qua cơ chế, pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các công ƣớc của Liên hợp quốc. Trong các văn kiện nhân quyền của Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và hai công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời đƣợc thông qua năm 1966, cùng hai nghị định thƣ bổ sung của Công ƣớc dân sự, chính trị đƣợc gọi là Bộ luật nhân quyền quốc tế. Đảng và Nhà nƣớc ta khẳng định quyền con ngƣời là thành quả và khát vọng chung của nhân loại.
Vì vậy, Đảng và Nhà nƣớc ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con ngƣời đƣợc thế giới thừa nhận rộng rãi. Cƣơng lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: "Con ngƣời là trung tâm của chiến lƣợc phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, gắn quyền con ngƣời với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nƣớc và quyền làm chủ của nhân dân" [7, tr. Nhà nƣớc Việt Nam luôn coi con ngƣời là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con ngƣời.
Hiến pháp năm 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trƣớc pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nƣớc và xã hội; quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cƣ trú trên đất nƣớc Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe,. không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền. Quyền con ngƣời là một giá trị thiêng liêng bất khả tƣớc đoạt.
Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự. Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ nhƣ các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trƣờng., nhƣng có thể nói, quyền con ngƣời trong TTHS là quyền dễ bị xâm phạm và tổn thƣơng nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền đƣợc sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, TTHS với tƣ cách là quá trình Nhà nƣớc đƣa một ngƣời ra xử lý trƣớc pháp luật khi họ bị coi là tội phạm, quá trình này luôn thể hiện đậm nét tính quyền lực nhà nƣớc với sức mạnh cƣỡng chế nhà nƣớc, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những ngƣời bị buộc tội. Chính vì vậy, hoạt động TTHS, trong bất cứ Nhà nƣớc nào đều đƣợc xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi ngƣời ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời [9].
Bảo vệ quyền con ngƣời trong TTHS, đó là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, quản lý, giáo dục ngƣời chịu án phạt tù, bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều đƣợc phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, không đƣợc làm oan ngƣời vô tội. Ngƣời phạm tội phải bị đƣa ra xét xử, chịu hình phạt tƣơng ứng với hành vi phạm tội. Mục đích của hình phạt không chỉ là trừng trị mà còn chủ yếu là để giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm quyền con ngƣời trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế các ghi nhận về quyền con ngƣời trong TTHS nhƣ: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ƣớc chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con ngƣời năm 1985,…. Nghiên cứu các văn bản này đƣa đến một khẳng định quyền con ngƣời trong TTHS chẳng qua là sự cụ thể quyền đƣợc sống, quyền đƣợc tự do, trong lĩnh vực TTHS. Đây đƣợc coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong TTHS. Theo đó (Điều 10, 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền – UHDR, Điều 14, 15 và 11 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị - ICCPR) quyền con ngƣời trong TTHS bao gồm những quyền sau: - Quyền đƣợc xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai.
- Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trƣờng hợp áp dụng các biện pháp cƣỡng chế TTHS phải trên cơ sở luật định. - Quyền đƣợc suy đoán vô tội. - Quyền đƣợc bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ.
- Ngƣời chƣa thành niên phải đƣợc áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt. - Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền đƣợc nhanh chóng minh oan. Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi.… - Các quyền con ngƣời trong thi hành án hình sự và sau xét xử. Những quyền trên là những quyền của ngƣời bị buộc tội, đối tƣợng quan trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS.
Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHS không chỉ có những ngƣời bị buộc tội mà còn nhiều ngƣời khác mà lâu nay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.