Chương I – SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP VÀ QUYỀN CON NGƯỜI 1.1 Lịch sử ra đời và các đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiến pháp 1. Lịch sử ra đời của chủ nghĩa hiến pháp Sự ra đời của chủ nghĩa Hiến pháp gắn liền với sự phát triển của Hiến pháp ở mỗi nhà nước nói riêng và Việt Nam nói chung. Hiến pháp là văn bản quan trọng nhất, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của mọi quốc gia trên thế giới. Hiến pháp ra đời muộn hơn các ngành luật khác.
Trên thức tế, Hiến pháp không ra đời được ở các nhà nước chiếm hữu nô lệ hoặc phong kiến, ở đó quyền lực của các vị vua hay nữ hoàng là tối cao, cao hơn mọi thứ pháp luật khác. Cho nên khi nhà nước dân chủ (bao gồm dân chủ tư bản chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa) ra đời thì đồng thời Hiến pháp cũng ra đời. Hiến pháp ra đời được coi như một giao kết cơ bản giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trong xã hội về việc phân chia quyền lực trong nhà nước. Thông qua Hiến pháp, người dân trong xã hội sẽ có những quyền cơ bản nhất định để bảo vệ mình qua đó hạn chế được các quyền của giai cấp thống trị trong xã hội.
Ở chiều ngược lại, hiến pháp cũng quy định rõ về địa vị, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ đó hạn chế sự lạm quyền, vượt quyền của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp quy định thể chế nhà nước, mục tiêu của hiến pháp là bảo vệ quyền con người, đem lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Nhưng với tư cách là công cụ duy nhất để gìn giữ trật tự công cộng, Hiến pháp không tránh khỏi sự chuyên chế? Vậy làm cách nào để không sa vào việc lạm dụng quyền lực nhà nước mà vẫn đảm bảo ấn định đủ quyền lực cho người cầm quyền? Giải pháp này chính là thuyết Hiến pháp trị hay còn gọi là chủ nghĩa Hiến pháp. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các lý thuyết chính trị tiến bộ hiện đại đã thể hiện trên thực tế qua quá trình đấu tranh cho chủ nghĩa hiến pháp.
Thắng lợi sớm nhất và vẻ vang nhất là thắng lợi đạt được tại nước Anh. Giai cấp thương nhân ngày càng lớn mạnh, trước kia ủng hộ chế độ quân chủ Todor 13 trong thế kỷ 16, đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng trong thế kỷ 17 và được quyền thiết lập tối cao của Quốc hội và sau đó là quyền tối cao của Hạ nghị viên. Đặc điểm của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại không xuất phát từ cuộc đấu tranh đó, không phải là việc đòi hỏi nhà vua cũng phải tuân theo pháp luật. Tuy quan điểm này là một đặc tính cốt yếu của chủ nghĩa hợp hiến nhưng thực ra nó đã được hình thành rõ rệt từ thời kỳ trung cổ.
Điểm độc đáo của chế độ này là việc thiết lập các phương tiện kiểm soát chính trị hữu hiệu để thi hành chế độ chính trị. Chủ nghĩa hiến pháp hiện đại được khai sinh với đòi hỏi là đại diện chính quyền phải lệ thuộc vào nhân dân. Hơn thế nữa, chủ nghĩa hiến pháp hiện đại liên quan mật thiết với kinh tế và chủ thể của nguồn tài chính, tức là người đóng thuế để nuôi chính quyền phải được hiện diện trong chính quyền đó. Nguyên tắc nguồn cung cấp kinh tế phải gắn liền với việc sửa sai các điều khiếu nại là điều cốt yếu trong chủ nghĩa hợp hiến hiện đại.
Sự suy giảm nguồn thu của vua trong chế độ phong kiến, sự gia tăng tinh thần đoàn kết dân tộc – thay vì là sự thần phục có tính chất tương trưng đối với nhà vua và triều đình – đã khiến cho việc giới hạn quyền lực nhà vua trở thành hiện thực và hiện hữu. Tuy nhiên, như ta đã thấy qua các điều khoản của đạo luật về quyền năm 1689 (Bill of Right, 1689), cuộc cách mạng ở Anh đã được diễn ra không chỉ bảo vệ quyền sở hữu tài sản mà còn thiết lập các quyền tự do mà những người tiến bộ cho là có giá trị tinh thần thiết yếu cho phẩm cách và giá trị con người. Có thể nói, chủ nghĩa hiến pháp ra đời là kết quả của một sự đấu tranh lâu dài. Cuộc cách mạng tại nước Anh có thể coi là thắng lợi đầu tiên, đã 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được diễn ra không chỉ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản, mà còn thiết lập các quyền tự do mà những người tiến bộ cho là có giá trị tinh thân thiết yếu cho phẩm cách của con người.
“Các quyền con người” được nêu ra trong đạo luật về quyền của nước Anh dần được phát triển phổ biến ra ngoài biên giới, nhất là trong bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp năm 1789. Thế kỷ 18, chủ nghĩa hợp hiến xuất hiện tại Mỹ và Pháp và sau đó đến thế kỷ 19 thì lan tới Đức, Ý, các nước Tây Âu. Trật tự chủ nghĩa hiến pháp của xã hội Mỹ đặt cơ sở trên sự ưng thuận của mọi người có lương trị, nam cũng như nữ. Sự ưng thuận này được biểu hiện bởi một khế ước xã hội ấn định việc ủy thác để thực hiện một mục đích có giới hạn.
Các lý thuyết về “khế ước xã hội” được thịnh hành nhiều nhất từ thế kỷ 17 và 18 tại Châu Âu, thường gắn liền với tên tuổi của các triết gia người anh như Thomas Hobbes và John Locke, và triết gia người Pháp Jean Jacques Rousseau. Các nhà tư tưởng này cho rằng, vì lợi ích riêng của mình và vì lẽ phải, cá nhân có những nghĩa vụ chính trị đối lập tập thể. Các nhà tư tưởng đó nhận thức được các ưu điểm của một xã hội dân sự trong đó đòi hỏi các cá nhân vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ, so với các khuyết điểm của một “nhà nước tự nhiên” là tình trạng giả định trong đó không có một thẩm quyền nào cai trị cả. Ý tưởng “khế ước xã hội” phản ánh nhận thức của một tập thế sinh động – chứ không phải là một chính quyền – phải được thành lập thì mới có được một chính thể tự do trong đó con người mới được bảo vệ và chống lại sự tấn công của các ý tưởng mê muội gây ra sự hỗn loạn, nạn chuyên chế và tình trạng nổi loạn chống lại trật tự hợp lý của con người.
Trong luận cương liên bang số 2, John Jay nhận xét rằng, cá nhân phải nhường một số quyền tự nhiên của họ cho xã hội thì chính quyền mới có quyền lực cần thiết để hành động nhằm bảo vệ lợi ích chung. Do đó, sự tham gia của công dân vào một nên dân chủ theo Hiến pháp cũng đòi hỏi người công dân phải có trách nhiệm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tôn trọng luật và các quyết định của tập thể trong các quyết định công cộng, ngay cả khi cá nhân hoàn toàn không đồng ý với các đạo luật và quyết định đó. Những đối tượng vô chính phủ, tự coi mình là thần thánh, những kẻ có khuynh hướng độc tài, toàn quyền thao túng pháp luật cần phải loại bỏ khỏi xã hội. Hobbles, Locke và các bậc khai sáng nước Mỹ cũng ảnh hưởng công việc đó.
Đó là điều kiện cốt yếu của một xã hội dân sự, không có nó thì xã hội không thể tồn tại. Các luật lệ và chính sách của một chính quyền theo hiến pháp không những chỉ có tầm mức giới hạn và căn cứ vào sự thỏa thuận mà còn phải có nhiệm vụ phục vụ cho sự an sinh của mọi người trong xã hội và còn cho từng cá nhân trong xã hội đó. Các chính khách Mỹ - từ những nhà cách mạng đến những người soạn hiến pháp đều coi đó là di sản của lịch sử Hoa Kỳ. Di sản đó bắt đầu xuất hiện từ tuyên ngôn độc lập 1976, qua các điều khoản của liên bang (1781) tới khi kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng (1787) Revolutionary War (1783), lúc hình thành hiến pháp 1787 và việc phê chuẩn bộ luật về quyền (1791) (Bill off Right) (1791).
Các cuộc đấu tranh cho tự do và chế độ hiến pháp tại Mỹ thể hiện ở các điểm: - Chủ quyền thuộc về nhân dân, trong phần dẫn Hiến pháp của nước Mỹ khẳng định: “Chúng tôi Nhân dân… quy định và lập ra Hiến pháp này”, điều đó khẳng định, nhà nước Hoa Kỳ do nhân dân làm chủ. Các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã soạn thảo và đệ trình cho nhân dân phê chuẩn một văn kiện dùng để cai trị, dựa trên quan niệm là chính quyền chính trị tối cao phải thuộc về nhân dân. Chế độ pháp trị. - Chế độ pháp trị là chế độ cơ bản trong nhà nước Mỹ.
Các nhà lập quốc Mỹ tin rằng chế độ pháp trị là dòng máu nuôi sống trật tự xã hội Mỹ với các quyền tự do, cơ bản của con người. Cai trị theo pháp luật bao hàm ý phải 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng tới một nền công lý và pháp luật ở mức cao hơn ở mức bình thường của con người hay pháp luật mà các nhà chính trị gia nhất thời ban hành. Khi không cho cả cá nhân lẫn nhà nước vượt qua luật tối cao của đất nước, các nhà lập pháp tạo ra được lớp chắn bảo vệ cho quyền và tự do cá nhân. - Phân chia quyền lực và hệ thống kiểm soát cân bằng: Bằng cách chia việc cai trị thành ba quyền lập pháp – hành pháp và tư pháp, các nhà soạn thảo Hiến pháp Mỹ muốn giữ cho các quyền lực cơ bản không bị độc quyền.
- Thể chế liên bang: Theo Hiến pháp Mỹ, quyền lực trong nhà nước được chia sẻ giữa một bên là chính quyền toàn quốc và nhiều chính quyền tiểu bang. Chính quyền toàn quốc có quyền tối cao trong một số lĩnh vực nhưng tiểu bang không chỉ thuần túy là các đơn vị hành chính của chính quyền trung ương. Quyền của các bang được bảo vệ bằng nhiều cách khác nhau. - Công cuộc đấu tranh cho quyền cá nhân: Trong soạn thảo Hiến pháp 1787, quyền cá nhân chưa được đề cập nhiều.
Năm 1789, Quốc hội đầu tiên của Mỹ đã chấp thuận 10 tu chính đầu tiên của Hiến pháp. Năm 1791, Bộ luật về quyền, gồm 10 điều tu chính này đã được đủ số tiểu bang phê chuẩn. Bộ luật về quyền giới hạn khả năng chính quyền xâm phạm vào các quyền tự do các nhân.