Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BI TƯỚC TỰ DO BẰNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên và người chưa thành niên bị tước tự do 1. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên Quá trình phát triển của con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau trong đó có một quá trình đặc biệt mà con người có những bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tâm hồn, thời kỳ đó được gọi là thời kỳ chưa thành niên. Chưa thành niên là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn, luôn gắn liền với những biến đổi tâm sinh lý mà bất kỳ người nào cũng phải trải qua.
Lúc này, NCTN không hẳn là trẻ em, cũng chưa hẳn là người trưởng thành, đây là thời kỳ chuyển tiếp, các em không còn thụ động với vai trò của người được dạy dỗ nhưng lại chưa hẳn là người lớn, chưa có đủ khả năng phán đoán và giải quyết các tình huống. Hiện nay có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về NCTN, trước hết trên phương diện pháp luật quốc tế, khái niệm NCTN được đề cập tới trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng cụ thể như sau: Tại Điều 1, Phần 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28]. Như vậy, theo CRC trẻ em bao gồm tất cả những ai dưới 18 tuổi. Tại Các Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990, trong phần 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm vi áp dụng quy tắc, có quy định “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định” [30]. Các hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (các hướng dẫn Ri – Át), được thông qua và tuyên bố ngày 14/12/1990, mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về NCTN nhưng thông qua các quy định như: Hướng dẫn này phải được giải thích và được thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của tuyên bố thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, Công ước về quyền trẻ em là phạm vi các quy tắc phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN, cũng như các văn kiện và tiêu chuẩn khác có liên quan đến các quyền và lợi ích, phúc lợi của các thành niên… [29]. Như vậy, tinh thần của hướng dẫn cũng cho thấy NCTN là người dưới 18 tuổi. Theo Các quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người lớn” [26].
Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhấn mạnh rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật nghĩa là các quy tắc Bắc Kinh chỉ quy định các tiêu chuẩn tối thiểu và nó hoàn toàn tôn trọng tính “riêng” của mỗi quốc gia. Điều này mở ra cho mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với NCTN để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia mình. Tóm lại, tuy các Văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người nói trên có phạm vi điều chỉnh khác nhau xong đều thống nhất ở quan điểm NCTN là người dưới 18 tuổi. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm về NCTN, cụ thể: Theo Từ điển Tiếng việt – Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam thì:“NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [55].
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy từng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của mỗi ngành luật mà mỗi ngành luật lại có quy định khác nhau về NCTN. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “. Người chưa đủ 18 tuổi là NCTN”. Như vậy, NCTN là người dưới 18 tuổi [38, Điều 18].
Luật lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [41, Điều 161]. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khẳng định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [37, Điều 1]. BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm 2.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [40, Điều 12]. BLHS quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS. LHS (LHS) Việt Nam quy định NCTN phải chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, thực hiện hành vi phạm tội và có năng lực TNHS. Nói cách khác, NCTN phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và những người từ đủ 16 tuổi trở lên những người chưa đủ 18 tuổi phạm các tội phạm khác.
Một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cho dù hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý đều không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, quy định vấn đề NCTN phạm tội trong LHS còn có ý nghĩa thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc bình đẳng trong LHS làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt, đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội. Như vậy pháp luật Việt Nam nói chung có khá nhiều quy định khác nhau về NCTN nhưng đều thống nhất khái niệm NCTN là những người dưới 18 tuổi hay là người chưa đủ 18 tuổi. Đến một độ tuổi nhất định, con người mới có sự phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý và trở thành người trưởng thành.
Độ tuổi nhất định ở đây là đủ 18 tuổi. Khi đó, một người có đủ năng lực pháp luật, đủ năng lực hành vi và có thể tự chịu trách nhiệm khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật nói riêng. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em và NCTN là không đồng nhất bởi lẽ theo các phân tích ở trên, NCTN là những người dưới 18 tuổi nhưng trẻ em lại chỉ là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi mà thôi. Như vậy, trẻ em là NCTN nhưng NCTN không phải trong trường hợp nào cũng là trẻ em.
Nhìn từ khía cạnh luật pháp nhận thấy căn cứ để xác định một người có phải là NCTN hay không chính là các giới hạn về độ tuổi mà nhà làm luật đã quy định. Có nhiều ý kiến cho rằng khái niệm NCTN trên phương diện pháp lý chưa được đầy đủ vì mới chỉ ra giới hạn về độ tuổi mà chưa chỉ ra các đặc điểm về thể chất và trí tuệ. Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm nhà làm luật đưa ra là phù hợp bởi lẽ chính giới hạn về độ tuổi đã tính đến sự hợp lý giữa đặc điểm thể chất, tinh thần của các em đặc biệt đã tính đến khả năng của các em khi đặt các em trong mối tương quan với các quan hệ pháp luật khác nhau đó. Từ các phân tích trên, có thể rút ra những đặc điểm của NCTN như sau: Thứ nhất: Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc của thời kỳ này, với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì quan 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm về NCTN cũng theo đó mà không giống nhau.
Nhưng tựu chung các quan niệm này đều đồng ý, NCTN là người chưa trưởng thành về thể chất và trí tuệ. Bởi các em đang ở trong quá trình hình thành, phát triển tâm sinh lý và hoàn thiện nhân cách. Về cơ bản NCTN cũng có những trạng thái tâm lý khác như những người bình thường. Tuy nhiên, do đặc trưng về lứa tuổi và sự phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tinh thần, kinh nghiệm sống ít ỏi, trình độ nhận thức còn hạn chế mà ở họ tồn tại những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt.
Ở lứa tuổi này, các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể lực và tâm sinh lý, do vậy các em dễ xúc động, khi thì trầm tư, lúc thì sôi nổi, dễ bị kích động, lòng kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp. Các em mong muốn được người lớn tôn trọng, luôn muốn khẳng định mình đã trưởng thành và không chấp nhận sự can thiệp quá sâu của người lớn vào đời sống cá nhân. Tuy nhiên, các em lại có xu hướng cường điệu trong đánh giá bản thân và các sự việc xung quanh, tự cường điệu, đánh giá quá cao bản thân hoặc quá tiêu cực, tự ti; luôn nhạy bén với mọi biến động của xã hội. Dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân, muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo ý kiến của mình mà không muốn bị ảnh hưởng bởi người khác, khát khao được người khác đánh giá và khẳng định mình.
Mặt khác, NCTN có nhu cầu giao tiếp với bạn bè, các em hay chơi thành nhóm với những đặc điểm khác nhau. Các em có thể cùng học hỏi ở nhau những điểm tốt hoặc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu từ các thành viên trong nhóm. Điểm đặc biệt ở những nhóm này là tinh thần đoàn kết rất cao nhiều khi mang tính cực đoan, cục bộ, bè phái. Có thể vì một cá nhân mà cả nhóm sẵn sang gây gổ đánh nhau với nhóm khác một cách vô lý để rằn mặt, bảo vệ thành viên trong nhóm hay khẳng định địa vị của nhóm.