Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THAM NHŨNG 1. Khái niệm tố cáo tham nhũng 1. Khái niệm tố cáo Hiện nay chƣa có một định nghĩa hay khái niệm duy nhất về NTC nào đƣợc thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên, về phƣơng diện quyền tự nhiên của con ngƣời, tố cáo là sự phản ứng của con ngƣời đối với tác động của ngoại cảnh, còn phƣơng diện xã hội, tố cáo thể hiện sự bất bình của một cá nhân đối với hành vi của một chủ thể.
Theo từ điển Tiếng Việt, tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó” hoặc “vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án” [48, tr. Đây là cách hiểu tố cáo một cách thông thƣờng và phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên định nghĩa này chƣa thể hiện rõ đƣợc nội dung chủ thể của tố cáo và đối tƣợng tố cáo. Tố cáo theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đƣợc thể hiện trong Thƣ gửi đồng bào Liên khu IV, khi Bác ghi rằng: Nƣớc ta là một nƣớc dân chủ.
Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân nhƣ Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn… Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với nhân dân với Chính phủ. Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam.
Đồng bào biết rõ và khéo dùng quyền ấy [26]. Có thể nói, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tố cáo là phƣơng tiện để ngƣời dân phản ánh lại những hành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích chính đáng của mình với cơ quan công quyền. Dƣới khía cạnh việc làm, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa tố cáo “người lao động hoặc người từng làm việc, tố cáo về hành vi bất hợp pháp, trái quy tắc gây nguy hiểm hoặc phi đạo đức do người sử dụng lao động thực hiện” [78]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoặc định nghĩa của Guy Dehn (một chuyên gia trong lĩnh vực lao động) và Richard Calland cho rằng: “Người lao động có nhiều cách đề bày tỏ thái độ của mình về những hành vi sai trái nơi công sở, tức là vạch trần hành vi đang gây tổn hại cho người khác thay vì phải giữ kín cho riêng mình.
Việc tố cáo có thể là thông qua giao tiếp từ việc nói chuyện với cấp trên, với người quản lý, giám thị hoặc với đồng nghiệp” [78, tr. Định nghĩa này nhìn nhận tố cáo với phạm vi rộng, tố cáo không chỉ giới hạn trong lĩnh vực công mà cả lĩnh vực tƣ. Coi tố cáo nhƣ một phƣơng tiện để thúc đẩy trách nhiệm của bất cứ chủ thể nào thông qua việc tiết lộ thông tin về hành vi sai trái. Bên cạnh đó, định nghĩa còn đề cập tới việc BVNTC, chống lại mọi biện pháp trả thù NTC.
Tuy nhiên, cả hai định nghĩa của ILO và Guy Dehn - Richard Calland lại giới hạn chủ thể tố cáo, không đề cập tới tố cáo nhân dân mà chỉ giới hạn trong tố cáo của các thành viên, ngƣời trong tổ chức, cơ quan. Tổ chức Hƣớng tới Minh bạch lại định nghĩa “Tố cáo là việc tiết lộ thông tin về việc làm sai trái trong tổ chức, hoặc các nguy cơ của chúng với các cá nhân hoặc tổ chức được cho là có khả năng thực hiện hành động hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng của tố cáo là để bảo vệ lợi ích công cộng” [83, tr. Do đó, nhìn chung có thể tổng kết những đặc điểm chung cơ bản của tố cáo bao gồm: một là, công bố thông tin về hành vi sai phạm; hai là, hƣớng tới mục đích vì lợi ích chung; ba là, các tố cáo hành vi sai phạm đƣợc thực hiện thông qua các kênh thông tin đã đƣợc quy định [81, tr.
Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 (sau đây goi là Luật Tố cáo) đã định nghĩa “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Tuy nhiên, định nghĩa này đã giới hạn đối tƣợng tố cáo và phạm vi những hành vi đƣợc tố cáo, đó là chƣa bao gồm những hành vi vi phạm quy tắc của đơn vị, tổ chức (điều lệ, quy chế, nội quy…) và cả những hành vi vi phạm đạo đức gây thiệt hại lợi ích công. Còn giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS. TS Nguyễn Cửu Việt làm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ biên lại định nghĩa “Tố cáo là việc công dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc sẽ đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [76, tr.
Định nghĩa này đã giới hạn lại chủ thể tố cáo là “công dân”, đối tƣợng tố cáo chƣa đƣợc làm rõ với cụm từ “việc công dân phát hiện với” và chỉ giới hạn trong phạm vi “việc làm trái pháp luật”. Có thể thấy, định nghĩa của Luật Tố cáo và của Tổ chức Hƣớng tới Minh bạch đều coi tố cáo là việc công dân cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nƣớc về hành vi sai trái. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 9 Luật Tố cáo cho rằng để giải quyết một vụ việc thì thông tin cung cấp phải chi tiết. Trƣờng hợp NTC không cung cấp tài liệu làm bằng chứng khi cơ quan nhà nƣớc yêu cầu, sẽ không có căn cứ để xác minh hành vi bị tố cáo nên cơ quan nhà nƣớc có thể không thụ lý giải quyết tố cáo (khoản 2 Điều 20 Luật Tố cáo).
BLHS và BLTTHS dùng từ tố giác tội phạm thay vì tố cáo, theo khoản 1 Điều 3 Thông tƣ liên tich ̣ số 06/2013/TTLT- BCA - BQP – BTC - BNN&PTNT - VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ trƣởng Bộ Công An, Bộ trƣởng Bộ Quốc phòng, Bộ trƣởng Bộ Tài chính, Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Viện trƣởng Viện Kiểm sát hƣớng dẫn thi hành quy đinh ̣ của BLTTHS về tiế p nhâ ̣n, giải quyết tố giác , tin báo về tô ̣i pha ̣m và kiế n nghi ̣khởi tố , tố giác là “những thông tin về hành vi có dấ u hiê ̣u tội phạm do cá nhân có danh tính , đi ̣a chỉ rõ ràng cung cấ p cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”. Về bản chất, tố giác và tố cáo là một, tố cáo là khái niệm chung, còn tố giác là tố cáo hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm đƣợc quy định trong BLHS, hay nói cách khác “trong tố tụng hình sự tố cáo hành vi tội phạm được gọi là tố giác về tội phạm” [43]. Ngoài ra, tố giác còn có những đặc điểm riêng biệt: một là, tố giác không chỉ là quyền mà là nghĩa vụ của công dân (Điều 19 BLHS 2015 quy định tội “không tố giác tội phạm”); hai là, quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi công dân biết về hành vi phạm tội; ba là, thông tin tố giác có thể đƣợc xem xét hoặc chỉ mang tính chất tham khảo; bốn là, việc tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm theo quy trình của pháp luật tố tụng hình sự. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng Tố cáo là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức tiết lộ thông tin về việc làm được cho là sai trái trong một cơ quan, tổ chức, cộng đồng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cộng đồng cho những cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền để ngăn ngừa, xử lý và khắc phục hậu quả.
NTC thực hiện tố cáo khi có cơ sở và tin rằng hành vi đó là hành vi sai trái hoặc có biểu hiện sai trái. Có thể NTC nắm giữ những thông tin, bằng chứng chắc chắn dùng để chứng minh cho nội dung tố cáo hoặc cũng có thể không có bằng chứng mà chỉ là tin tƣởng hoặc lầm tƣởng rằng đó là hành vi vi phạm, đó là khi NTC muốn thực hiện trách nhiệm ngăn ngừa hành vi bất hợp pháp, trái quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức. Tuy nhiên, có một lƣu ý là NTC tin hoặc lầm tƣởng hành vi bị tố cáo là hành vi sai phạm chứ không phải là cố ý đƣa ra thông tin không có thật hoặc có dụng ý xấu nhằm bội nhọ, hạ thấp danh dự mang tính cá nhân thì không đƣợc coi là tố cáo mà là lạm dụng quyền tố cáo [8,tr. Trong trƣờng hợp này họ phải chịu trách nhiệm về hành vi lạm dụng quyền tố cáo của mình trƣớc pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thời điểm tố cáo có thể là trƣớc hoặc sau khi xảy ra hành vi sai trái. Trƣờng hợp hành vi trái pháp luật sắp xảy ra, tố cáo là hình thức cảnh báo sớm về mối nguy hại. Mục đích chính của tố cáo lúc này là ngăn chặn những thiệt hại và mối nguy hiểm có thể xảy ra. Còn trong trƣờng hợp tố cáo hành vi đã xảy ra, mục đích chính là xử lý sai phạm và khắc phục hậu quả do hành vi tố cáo gây ra.
Đặc điểm của quyền tố cáo Theo tự nhiên, con ngƣời phản ứng lại mọi sự xâm phạm hoặc nguy cơ xâm phạm các quyền, nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích của mình. Tố cáo chính là quyền phản kháng, tự vệ của mọi cá nhân trƣớc sự vi phạm về quyền có trong đời sống xã hội dân sự lẫn hoạt động của nhà nƣớc. Có thể hiểu một cách đơn giản, tố cáo là việc tiết lộ thông tin về hành vi sai trái cho một chủ thể có khả năng giải quyết hiệu quả. Trọng tâm của quyền tố cáo là quyền tự do ngôn luận [78,tr.
Nhìn nhận quyền tố cáo dƣới góc độ là quyền con ngƣời, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua bản ghi chép phiên họp thứ 70, mục số 73 (b): “việc bảo vệ nguồn tin và NTC dựa vào cốt lõi của quyền tự do ngôn luận.