phần mở đầu, ba chương nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung chính của các chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Một số khái niệm về bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển và nguồn gây ô nhiễm môi trường biển Chƣơng 2: Quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ môi trường và thực trạng ô nhiễm môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển Chƣơng 3: Pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường hoạt động phá dỡ tàu biển và đề xuất, kiến nghị 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÁ DỠ TÀU BIỂN VÀ NGUỒN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG BIỂN 1. Một số khái niệm về bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động phá dỡ tàu biển 1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường - Môi trường: “Environment” trong tiếng Anh có nghĩa là môi trường, có nguồn gốc từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất cả những gì bao quanh một điểm trung tâm.
Theo cách hiểu như vậy, môi trường có thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa có ảnh hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng. Như vậy, vấn đề môi trường có thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm và tiếng ồn, … về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc có thể hiểu là toàn bộ hành tinh của chúng ta. Trong Báo cáo toàn cầu năm 2000 (công bố năm 1982) đã đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh loài người. Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trường xung quanh để sống …, mối quan hệ giữa loài người và môi trường chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con người và môi trường bị xóa nhòa đi”.
[6, tr6] Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm môi trường được hiểu như là mối quan hệ giữa con người và những điều kiện sống của con người, những yếu tố, hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên và điều kiện vật chất nhân tạo bao quanh con người. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam, “Môi trường” là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Còn theo Từ điển tiếng Việt “Môi trường” là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm: + Nguồn tài nguyên thiên nhiên, gồm cả sinh vật và phi sinh vật như không khí, nước, đất, động vật, thực vật và sự tương tác giữa các yếu tố đó; + Những tài sản là một phần của di sản văn hóa; + Các đặc điểm khía cạnh của cảnh quan.
Các nhà sinh thái học đã chỉ ra rằng toàn bộ môi trường sống của chúng ta (không khí, nước, đất đai) và tất cả các loài sinh vật có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Khi có bất kỳ một thành tố nào của môi trường bị tổn hại sẽ ảnh hưởng đến các thành tố khác và kéo theo là ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khỏe của con người, và chúng ta khó có thể lường trước được hậu quả. - Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ, … ở bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định. Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó.
Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lửa phun, NO2 trong khói xe, CO từ khói đun, …), các kim loại nặng như chì, đồng, sắt, … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian. Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên. Bảo vệ môi trường và pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường - Bảo vệ môi trường: Cộng đồng quốc tế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài về mặt nhận thức và hành động cụ thể để có thể đưa ra được khái niệm bảo vệ môi trường. Từ chỗ cộng đồng quốc tế chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường, chưa có những hành động nhằm bảo vệ môi trường một cách tự giác tới khi nhận thức được tầm quan trọng của nó.
Cộng đồng quốc tế đã có những hoạt động cụ thể nhằm tìm kiếm những biện pháp bảo vệ môi trường: + Giai đoạn thu thập thông tin về môi trường (1950-1960) Trong giai đoạn này, cộng đồng quốc tế thu thập thông tin về số lượng, chất lượng từng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hoạt động này được thực hiện ở các quốc gia phát triển hơn ở thời kỳ đó. + Giai đoạn báo động về tình trạng môi trường Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, ở các quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu đã thực hiện những cảnh báo giữa các quốc gia về hiện trạng môi trường quốc gia. Các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã lập các chương trình và chiến lược bảo vệ môi trường.
+ Giai đoạn triển khai thực hiện bảo vệ môi trường Đầu những năm 70 của thế kỷ 20 cho tới nay, các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã và đang xây dựng và thực hiện những chương trình bảo 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vệ môi trường. Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 năm 1995 đã định nghĩa bảo vệ môi trường như sau: “Bảo vệ môi trường là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật và môi sinh, đất, nước, không khí, lòng đất), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu. nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người. Ngoài ra, bảo vệ môi trường còn tạo ra điều kiện tinh thần, văn hóa khiến cho đời sống con người được thoải mái”.
[6, tr17] Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “ Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. - Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường: Luật quốc tế (LQT) là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Đó là nguyên tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau. Hệ thống luật pháp quốc tế về môi trường bao gồm các điều ước quốc tế về môi trường, hoặc liên quan đến môi trường và các tập quán quốc tế, hình thành trên cơ sở thực tiễn của một số quốc gia và được một số quốc gia khác công nhận, chấp nhận áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia.
Cần chú ý là thực tiễn quốc tế còn bao gồm các phán quyết trước đó của tòa án, cơ chế giải 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết tranh chấp quốc tế liên quan đến môi trường. Các điều ước quốc tế về môi trường có tính ràng buộc đối với một quốc gia bao gồm các thỏa thuận, tuyên bố, hiệp ước đa phương, song phương và các công ước quốc tế về môi trường mà quốc gia đó là thành viên. Hệ thống luật pháp quốc tế về môi trường điều chỉnh các vấn đề như đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ô-zôn, các chất độc hại, sa mạc hóa, nguồn tài nguyên biển, cũng như chất lượng không khí, đất và nước. Hiện nay, hệ thống luật pháp quốc tế về môi trường đã bao trùm mọi lĩnh vực, là cơ sở quan trọng để các nước xây dựng hệ thống luật pháp về môi trường quốc gia.
Hệ thống luật pháp quốc tế về môi trường được xây dựng theo 5 nguyên tắc (Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt; Bên gây ô nhiễm hoặc sử dụng tài nguyên, các dịch vụ môi trường phải trả tiền; Phòng ngừa; Chia sẻ lợi ích công bằng giữa các thế hệ; Phát triển bền vững). Các văn kiện quốc tế mang tính toàn cầu về môi trường bao gồm các tuyên bố chung, công ước quốc tế và thỏa thuận toàn cầu khác… Trong đó có nhiều công ước quốc tế liên quan tới quản lý, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển. Điển hình là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), Công ước quốc tế Hồng Kông về tái chế tàu an toàn và thân thiện với môi trường, năm 2009, Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (CLC 1992), Công ước MARPOL về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển do tàu gây ra, Công ước về ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động nhận chìm, Công ước quốc tế về hợp tác, chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu (OPRC), Công ước quốc tế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do vận chuyển các chất độc hại trên biển (HNS), Công ước Đa dạng sinh học (CBD).