Chương 1: Cơ sở lý luận của thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in. Chương 2: Thực trạng thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in (Khảo sát Báo Nhân dân, Báo Khánh Hòa và Báo Thanh Niên giai đoạn từ tháng 5/2011 đến tháng 5/2014). Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in hiện nay. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THÔNG TIN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO IN 1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in 1.1 Biển đảo a) Biển: Trong từ điển tiếng Việt, biển được định nghĩa: 1.
Vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất; 2 Vùng đại dương ven lục địa được ngăn cách bởi đảo hay đất liền; 3 Khối lượng nhiều đông đảo được ví như biển.Ví dụ Mọi thứ chìm trong biển lửa. Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền ít hay nhiều. b) Khái niệm Đảo và Quần Đảo Trong công ước của Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, điều 121 Quy định: Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước [Trích điều 121, Công ước luật Biển 1982]. Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh.
Đối với người đi Biển thì Đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gốm các đảo, đá. Theo nghĩa pháp lý: Điều 46 Công ước Luật Biển 1982 quy định: “Quần Đảo là một nhóm đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước nối các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử”. Một nước ven biển có năm vùng biển: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa c) Nội thủy Điều 8 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định: “Nội thủy là toàn bộ vùng nước tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở dùng để 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính chiều rộng của lãnh hải. Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình”.
d) Lãnh hải Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở. Theo luật biển quốc tế cho đến những năm 60 của thế kỷ 20, chiều rộng của lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ có 03 hải lý (mỗi hải lý bằng 1. Theo luật biển quốc tế hiện đại, cụ thể là điều 3 của Công ước Luật Biển năm 1982 thì chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý. e) Vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải.
Chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải cũng không quá 12 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa việc vi phạm các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. Quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải để trừng trị việc vi phạm các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. f) Vùng đặc quyền kinh tế Đó là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ ðường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý).
Đây là một chế định pháp lý hoàn toàn mới vì theo luật biển quốc tế cho đến những năm 50 của thế kỷ 20, các quốc gia ven biển không có vùng biển này. g) Thềm lục địa Thềm lục địa của quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Trên thực tế, rìa ngoài của thềm lục địa ở các khu vực có khác nhau: Có nơi hẹp, không đến 200 hải lý; nhưng có nơi rộng đến hàng trăm hải lý. Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ ràng.
Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều cần nhấn mạnh là, một mặt các quốc gia ven biển được hưởng các quyền tương ứng như đã nêu trên đối với các vùng biển của mình, nhưng mặt khác họ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển khác. Theo “Những điều cần biết về Đất Biển Trời nước ta” tác giả Lưu Văn Lợi,. Việt Nam giáp với biển Đông ở hai điểm Đông và Nam.
Vùng biển Việt Nam là một phần của Biển Đông, chiếm khoảng 29% diện tích của Biển Đông (khoảng 1 triệu km) rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền, bờ biển dài 326 km, như vậy cứ trên 100km có 1 km bờ biển.2 Vai trò của Biển đảo đối với nước ta Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km2 trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1 km2 bờ biển) đứng đầu các nước Đông Dương, trên Thái Lan và xấp xỉ Malaysia. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển.
Biển, đảo giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: a) Về kinh tế, chính trị - xã hội: Theo các tài liệu được công bố hiện nay của Bộ Quốc Phòng nước ta [Báo cáo tham luận tại Hội nghị tuyên truyền Viên của thiếu tá Nguyễn Văn Vững, Tổng cục II, 2011]. Biển Đông kéo dài từ bờ biển nam Đảo Đài Loan xuống bờ Bắc Indonexia, có diện tích khoảng 3,5 triệu Km, được 8 quốc gia bao bọc xung quanh: Phía Bắc giáp Trung Quốc – Đài Loan; Phía Nam giáp Thái Lan, Malaisia, Indonesia; Tây giáp Việt Nam, campuchia; Đông giáp philippinnes và Bruney. Biển Đông là vùng biển có một trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới đi qua. Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải).
Hàng ngày có khoảng 200-300 tàu từ 5.000 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tấn trở lên qua lại (không kể dưới 5.000 tấn) chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới. Là tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch mang tính chiến lược của các nước trong khu vực và thế giới; nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Châu Âu, Trung Đông với Châu Á và giữa các nước Châu Á với nhau; chuyên chở 1/2 sản lượng dầu thô và các sản phẩm toàn cầu. Với Mỹ: Là tuyến hoạt động chính của Hạm đội 7, có 90% hàng hóa của Mỹ và đồng minh chuyên chở qua Biển Đông; với Trung Quốc hàng năm nhập 160 triệu tấn dầu thì 50% dầu nhập và 70% hàng hóa qua Biển Đông; với Nhật Bản 70% lượng dầu nhập khẩu và 42% lượng hàng hóa xuất khẩu chuyên chở qua Biển Đông. Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực.
Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới. Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bề trầm tích có triển vọng dầu khí với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng khai thác khoảng 2 tỉ tấn, đặc biệt khí thiên nhiên có tiềm năng rất lớn.
Hiện nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng chục triệu tấn dầu và hàng tỷ mét khối khí phục vụ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho phát triển kinh tế và dân sinh. Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựng khác. Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như: tôm cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao.
Đến nay đã xác định có 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 12 bãi cá phân bổ ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi. Dọc ven biển còn có hơn 80 vạn héc-ta bãi triều và các eo vịnh, đầm phá ven bờ rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản có giá trị xuất khẩu cao như tôm, cua, ngọc trai, cá song, cá mú, rong câu… Với tiềm năng trên, trong tương lai chúng ta có thể phát triển ngành nuôi trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại tạo ra nguồn xuất khẩu có kim ngạch lớn và khả năng cạnh tranh cao.