Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 1. Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hôn nhân và gia đình là các hiện tượng xã hội phát sinh cùng với sự phát triển của xã hội loài người, đó là sự gắn kết giữa mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Và mỗi cá nhân con người trong xã hội không ai không có quan hệ gia đình và đây là mối quan hệ mang tính phổ biến. Hôn nhân và gia đình là những quan hệ tất yếu trong đời sống xã hội của loài người ở bất cứ thời kỳ nào.
Tuy nhiên, xã hội là bất biến và hôn nhân gia đình cũng vậy, luôn có sự thay đổi, luôn phát sinh mâu thuẫn, vì vậy cần thiết phải có Luật Hôn nhân và gia đình ra đời để điều chỉnh các mối quan hệ này. Có thể hiểu Luật Hôn nhân và gia đình với các ý nghĩa khác nhau: là một môn học, là một văn bản pháp luật cụ thể hay là một ngành luật riêng. Với ý nghĩa là một môn học: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được hiểu là hệ thống những khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về pháp luật hôn nhân và gia đình và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình. Với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là đạo luật trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.
Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật: Khác với các quốc gia theo hệ thống pháp luật chung (Common Law), các nước theo hệ thống pháp luật lục địa trong đó có Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc gia thành những ngành luật khác nhau dựa vào nhóm quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và phương thức mà nó tác động lên quan hệ xã hội đó. Sự phân chia như vậy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm điều chỉnh pháp luật tốt hơn. Như vậy, có thể hiểu toàn diện là: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tất cả các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh trong đời sống hôn nhân gia đình. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình: Có 5 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là: 1.
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình [22, Điều 2]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em 1. Khái niệm bà mẹ và trẻ em 1.
Khái niệm bà mẹ Trong hệ thống khoa học pháp lý không có văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể về “bà mẹ”. Tuy nhiên, để hiểu sâu về thuật ngữ “bà mẹ”, ta có thể tìm hiểu từ khái niệm người phụ nữ để từ đó đưa ra khái niệm về bà mẹ như sau: - Dưới góc độ xã hội học: phụ nữ là một bộ phận của cơ cấu xã hội. Dựa vào tiêu chí, đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được phân chia thành nam và nữ, người già người trẻ, người lớn trẻ em, … - Dưới góc độ giới tính học: phụ nữ là khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang đặc điểm giới tính được xã hội về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ được hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường. - Dưới góc độ pháp lý: Phụ nữ hay nữ giới được xác định là những chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định mà không phải là nam giới.
Từ khái niệm người phụ nữ, có thể đưa ra kết luận về khái niệm “bà mẹ”. Bà mẹ được hiểu là người phụ nữ mang thai, sinh con và nuôi con khôn lớn, thực hiện chức năng cao cả của người phụ nữ mà không ai có thể thay thế được. Như vậy, khái niệm bà mẹ nằm trong khái niệm về phụ nữ, phụ nữ được hiểu rộng hơn còn bà mẹ là những người phụ nữ đã mang thai và sinh con, nuôi con – một tập hợp nhóm người phụ nữ có đặc điểm riêng biệt. Hiện nay, với những tiến bộ trong y học, chức năng làm mẹ sinh học được chia ra thành nhiều nhóm: làm mẹ do di truyền sinh học (người phụ nữ cung cấp trứng), người mẹ mang thai (người phụ nữ có thai, người phụ nữ mang thai hộ), người mẹ xã hội (người mẹ nuôi dưỡng đứa trẻ).
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về trẻ em Trẻ em là một thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên và được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968… Hiểu theo các thông thường thì trẻ em bao gồm bé trai, bé gái còn nhỏ tuổi, thường là lớp thiếu niên, nhi đồng hay còn được gọi là thế hệ măng non của xã hội, là nguồn hạnh phúc trong gia đình. Theo định nghĩa sinh học, trẻ em là người trong giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành. Tâm lý học cho rằng trẻ em là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nghiên cứu con người.
Nhìn từ góc độ xã hội học, trẻ em là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách mỗi con người. Dưới góc độ luật học, việc xác định trẻ em căn cứ vào việc phân định độ tuổi. Tuổi là một trong những căn cứ để đánh giá giai đoạn phát triển thể chất, nhận thức cũng như tâm – sinh lý của con người. Theo công ước về quyền trẻ em: “trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ những trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên thấp hơn”.
(Điều 1) Tại một số quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào cách đánh giá về sự phát triển cũng như dựa vào các điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội để xác định và quy định về nhóm người là trẻ em. Tại một số quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch,… chú ý nhiều đến vấn đề an sinh xã hội thì có quy định lớn hơn về mức tuổi của trẻ em, cụ thể quy định trẻ em là người dưới hai mươi tuổi. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em thì trẻ em được định nghĩa là người dưới 16 tuổi. Như vậy, có thể hiểu trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khỏe, tâm sinh lý khác với các nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù.
Khái niệm nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em Theo từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bản đã được định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Dưới góc độ khoa học pháp lý, nguyên tắc của một ngành luật được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định. Những tư tưởng này đòi hỏi phải được tuân thủ, chấp hành một cách tuyệt đối trong quá trình lập pháp cũng như áp dụng pháp luật. Với ý nghĩa là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình cũng có những nguyên tắc cơ bản riêng.
Đó là những “nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình” [25, tr. Nội dung của các nguyên tắc thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, của các cá nhân và thành viên trong gia đình trong việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình. Các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình phải thể hiện đúng nội dung các nguyên tắc cơ bản. Hệ thống các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình từ khi được ban hành lần đầu tiên cho đến nay đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Ngay từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, bà mẹ và trẻ em đã là đối tượng được nhà nước dành sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên phải đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì nguyên tắc này mới được ghi nhận thành một nguyên tắc riêng. Và nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” [22, Điều 2, Khoản 4] Làm mẹ là một thiên chức thiêng liêng của người phụ nữ.
Với những đặc điểm và chức năng riêng, người mẹ luôn nỗ lực và cố gắng dung hòa với nhiều vai trò khác nhau.