ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt nam nói riêng và Đông nam á nói chung là thiên đƣờng của phong lan hoàng thảo hay còn có tên gọi Dendrobium.Chúng đƣợc biết đến nhƣ loài hoa tràn đầy sức sống rất mạnh mẽ,sống bám trên những thân cây.Đƣợc trải rộng trên một diện tích lớn từ địa đầu móng cái xuống tới những khu rừng ngập mặn vẫn còn tìm thấy hoàng thảo. Hiện nay phong lan rừng tại Việt Nam có khoảng hơn 750 chủng loài „ theo Phạm Hoàng Hộ – 1993‟ với nhiều nét đặc trƣng khác nhau. Với sự phong phú về chủng loại cũng nhƣ màu sắc nhƣ thế, khó có thể miêu tả đƣợc hết những đặc điểm riêng của chúng. Cùng với sự phát triển của Công nghiệp, đời sống con ngƣời đƣợc nâng cao và nhu cầu thƣởng thức cái đẹp cũng ngày càng đƣợc gia tăng.
Để đáp ứng nhu cầu đó của xã hội thì một trong những loài cây đƣợc quan tâm, chú ý để nghiên cứu, khai thác và phát triển đó là cây Hoa lan thuộc họ Lan (Orchidaceae). Việt Nam là một trong những trung tâm khởi nguyên của nhiều loài Lan quý hiếm, nơi có nguồn gen phong phú và đa dạng (Nguyễn Đức Thuấn, 2007). Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng, đặc điểm sinh thái để bảo tồn, phát triển các giá trị đa dạng sinh học và giá trị kinh tế của các loài Lan đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế bền vững, tăng chuỗi giá trị sản phẩm của rừng đang là một yêu cầu cấp thiết đặt cho ngành Lâm nghiệp. Đây cũng chính là yêu cầu trọng tâm trong chiến lƣợc “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp” của Bộ NN&PTNT đó là phải sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững, phải chuyển đổi tƣ duy trong quan điểm về giá trị của rừng từ giá trị lâm sản là gỗ sang những giá trị tkhác nhƣ: giá trị môi trƣờng, sinh thái; giá trị đa dạng sinh học; giá trị đa dạng sinh học; giá trị các loài LSNG.
Xã Nậm Giải , huyện Quế phong, tỉnh Nghệ An là một trong những xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, đƣợc chuyển đổi từ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quế phong thành khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt theo quyết 1 định số 340/QĐ-UBND,NGÀY 23-6-2003 của tỉnh Nghệ An.Xã Nậm Giải với diện tích đất rùng là 11908,92 ha.Đây là khu vực tập trung nhiều loài thực vật rừng quý hiếm trong đó có các loài Phong lan.Tuy nhiên hiện nay khu vực đã và đang chịu những tác động của con ngƣời nên các loài Phong lan trong địa phƣơng đang đứng trƣớc nguy cơ suy giảm về số lƣợng loài và mật độ quần thể. Do vậy,việc tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đặc điểm phân bố và thực trạng bảo tồn các loài phong lan tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” nhằm cung cấp những thông tin về thành phần loài, vị trí phân bố, những tác động ảnh hƣởng đến sự phát triện của các loài phong lan để từ đó đƣa ra nhứng phƣơng pháp bảo tồn là rất cần thiết. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu Lan ở nƣớc ngoài Cây Lan (Orchida) thuộc họ Lan (Orchidaceae), bộ Lan (Orchidales). Họ Lan (Orchidaceae) là một trong những họ lớn nhất của thực vật và phân bố trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực.
Các loài trong họ Lạn thƣờng có hoa rất đẹp và mùi hƣơng rất thơm. Lan thƣờng đƣợc chia thành 03 nhóm chính: Phong lan, Địa lan và Thạch lan Ở Châu Âu, cây Lan đƣợc biết đến vào khoảng năm 370 – 285 trƣớc Công nguyên (dẫn theo Phạm Hoàng Hộ, 1992) qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp. Pharastus là cha đẻ của ngành học và là ngƣời đầu tiên dùng từ orchid để chỉ một loài lan có củ tròn. Ngƣời đặt nền tảng hiện đại cho môn học về Lan là Joanlind, năm 1936 ông đã công bố các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler) và tên của họ lan do ông đƣa ra đƣợc dung cho đến tận ngày nay (dẫn theo Trần Hợp, 1990).
Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (đƣợc tìm ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan. Ở Phƣơng Đông, Lan đ ƣ ợ c chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và h ƣ ơ n g thơm tuyệt vời của hoa. Vì vậy, trong thực tế Lan đƣợc chiêm ngƣỡng trƣớc tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không quá phô trƣơng sặc sỡ). Lan đối với ngƣời Trung Hoa hay Lan đối với ngƣời Nhật, tƣợng trƣng cho tình yêu và vẻ đẹp, hƣơng thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch, có ngƣời đã nói “Mùi hƣơng của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn”.
Khổng Tử đề cao Lan là vua của những loài cây cỏ có hƣơng thơm. Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ V trƣớc công nguyên đã có tranh vẽ về phong lan còn lƣu lại từ thời Hán Tông (dẫn theo Nguyễn Đức Thuấn, 2007). Lịch sử nghiên cứu Lan ở Việt Nam Nghề trồng hoa lan ở Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Vua Trần Nhân Tông lập nên Ngũ bách viên trong đó có 500 loài hoa quý đƣợc sƣu tập từ khắp các vùng đất nƣớc, chủ yếu là Kiếm lan (loài lan bản địa có nhiều hƣơng) thuộc chi Cymbidiumsp (dẫn theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp, 1995) ; Ngày đó, các chậu lan còn đƣợc coi là vật báu quốc gia.
Các loài Lan đó còn tồn tại đến ngày nay, đƣợc các nhà nho, quan lại, các gia đình khá giả thích chơi các loài Lan này và phát triển trong dân gian. Hiện nay, một số loài Lan quý hiếm vẫn tồn tại nhƣ Thanh Ngọc, Mạc đen, Đại mạc biên, Đại mạc, Hoàng vũ, Thanh trƣờng, Hoàng điểm. giá trị mỗi chậu lan nhỏ lên tới vài triệu đồng thậm chí cả chục triệu đồng khi tến đến xuân về (Trần Hợp, 1990 ; Trần Duy Quý và cộng sự, 1996 ; Nguyễn Công Nghiệp, 2000; Nguyễn Thiện Tịch, 1996 ). Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về Lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm, ngƣời đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - nhà truyền giáo Bồ Đào Nha.
Ông đã mô tả cây Lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789. Trong cuốn“Floracochinchinensis”gọi tên các cây Lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium. mà đã đƣợc Ben Tham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862-1883) (dẫn theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp, 1995). Sau khi ngƣời Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu đƣợc công bố đáng kể là F.
Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nƣớc Đông Dƣơng trong bộ "Thực vật Đông Dƣơng chí" (Flora Genera Indochine) do H. Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932-1934. Ở nƣớc ta đã biết đƣợc 897 loài thuộc 152 chi của họ hoa Lan (dẫn theo Dương Xuân Trinh, Đặng Xuyến Như, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Tuấn Anh, Nguyễn Đức Tố Lưu, Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Phúc Hiểu, Trần Duy Quý, 2005). Nguồn gen hoa Phong lan của Việt Nam rất phong phú.
Trong đó: lan Hoàng Thảo chiếm khoảng 30–40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004). 4 Trong điều kiện hội nhập, đầu tƣ phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho nội tiêu và xuất khẩu gia tăng mạnh. Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngƣời trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia. Đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa lan doanh thu lên hàng tỷ đồng nhƣ Sài Gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan.
song các công ty này chủ yếu buôn bán các giống lan nhập nội. Hiện nay trong nƣớc có nhiều ngƣời sƣu tầm và nghiên cứu về Lan và cũng có những công ty trồng Lan để bán và xuất cảng nhƣng với số vốn hạn hẹp, kỹ thuật thô sơ nên không thể nào cạnh tranh nổi với các nƣớc láng giềng nhƣ Thái Lan, Đài Loan đã có mặt trên thị tƣờng quốc tế từ lâu. Ngoài ra, do quy luật quốc tế bảo vệ các giống vật và cây quý hiếm do quy ƣớc Conventionon International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora (CITIES) đã cấm mua bán một số đặc sản, cho nên hoa lan của Việt Nam khó lòng đƣợc chính thức nhập cảng vào Hoa Kỳ. Trong khi đó nhiều lái buôn đã thuê ngƣời vào rừng thẳm, núi cao để kiếm lan bất kỳ lớn, nhỏ quý giá hay không đem bán cho các lái buôn Trung Quốc, Thái Lan hoặc Đài Loan với giá rẻ mạt: 2–3USD/kg.
Những cụm lan rừng vẫn đƣợc bày bán tại các hội hoa lan tại Santa Barbara hay South Coast Plaza có thể là xuất xứ tại Việt (dẫn theo Phan Thúc Huân, 2005). Nói đến Đà Lạt, không thể không nhắc đến địa lan với hàng trăm loại cùng sinh sống và sinh trƣởng với địa lan ngoại nhập. Theo các nhà nghiên cứu, hiện tại Đà Lạt có khoảng 300 loài phong lan và trên 300 giống địa lan nội và ngoại nhập cùng khoe sắc tỏa hƣơng. Trong đó Cymbidium còn gọi là kiếm địa lan, phong phú đa dạng hơn cả.
Các loài địa lan thuộc họ Cymbidium nhƣ: Lan Lô Hội, Thanh Lan, Xích Ngọc, Gấm Ngũ Hồ, Bạch Lan, Mặc Lan, Bạch Hồng, Hoàng Lan, Tử Cán… Từ những năm 1990, Liên hiệp khoa học sản xuất Đà Lạt đã thực hiện một số phƣơng pháp ghép lai giữa các loài lan, gieo hạt lan trong ống nghiệm để duy trì nguồn lan tự nhiên của địa phƣơng. Bên cạnh còn có một giống lan mà 5 duy nhất chỉ có ở Đà Lạt đó là giống lan Cymbidium Insignevar Dalatensis (hồnglan), đây là loài địa lan vô cùng độc đáo, màu sắc hoàn toàn khác biệt với những giống lan đã biết, các nhà khoa học đang cho nhân giống, và trồng rộng rãi (dẫn theo Sách đỏ Việt Nam 2007). Trong khoảng từ năm 1984 đến nay,một loạt các công trình nghiên cứu của GS.Averyanov đƣợc công bố liên quan đến nghiên cứu Lan Việt Nam,đặc biệt là phát hiện những loài Lan mới đối với khoa học,các loài Lan có nguy cơ bị đe dọa và các loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam.Tuy nhiên đó chỉ là công trình đƣợc công bố dƣới dạng các bài báo khoa học.Những công trình quan trọng nhất phải kể đến là: năm 1994,ông công bố cuốn sách “Identification guide to Vietnamese orcgids (Orchidaceae Juss)”.