Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1. Cơ sở của việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Giang 1. Khái niệm văn hóa, di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể Khái niệm văn hóa Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa Chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm người ta sinh ra ăn, mặc, ở trước rồi mới hát, múa, vẽ, viết và bàn triết lý sau. Kinh tế là nền tảng của một xã hội, là hạ tầng cơ sở.
Chính trị, pháp luật, văn hoá là những cái được xây dựng trên nền tảng đó, là thượng tầng kiến trúc của xã hội. Mác, Ănghen, Lênin là những người thầy, những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong vũ trụ quan, xây dựng một học thuyết mới về văn hoá. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng văn hoá bao gồm mọi sinh hoạt của con người, nó không chỉ hạn chế trong lĩnh vực tư tưởng, đời sống tinh thần của xã hội. Văn hoá là tất cả những gì con người xây dựng nên, tất cả những thành tích của loài người về mặt sản xuất, xã hội và tinh thần.
Lênin đã đưa ra quan điểm được coi như một định nghĩa về văn hoá và xây dựng nền văn hoá mới: “Nền văn hoá vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hoá vô sản bịa ra. Tất cả cái đó là hoàn toàn nhảm nhí. Nền văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của cái vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, của xã hội địa chủ, của xã hội quan liêu” [53, tr. Từ đó Lênin khẳng định: Tất cả những con đường lớn nhỏ đó đã và đang tiếp tục đưa tới nền văn hoá vô sản, cũng hệt như khoa kinh tế chính trị do Mác xây dựng lại đã chỉ ra cho ta thấy xã hội loài người tiến lên đấu tranh giai cấp, tiến lên bước đầu của cuộc cách vô sản [53, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là những phác thảo cơ bản về nền văn hoá mới mang nội dung và đại diện cho giai cấp công nhân. Nền văn hoá đó có truyền thống từ lâu đời, là tinh hoa của mỗi dân tộc và toàn nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Cùng với những tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí- Minh đã và đang chiếu sáng con đường chúng ta đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam, trong đó có lĩnh vực văn hoá, văn nghệ.
Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận sâu sắc về văn hoá: “… Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, văn học… những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những nhu cầu đời sống, những đòi hỏi của sự sinh tồn.” Khái niệm văn hóa của UNESCO Năm 1989, UNESCO đã đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế hệ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Khái niệm di sản văn hoá, di sản văn hoá phi vật thể. Trên cơ sở đồng thuận với quan niệm của UNESCO, Điều 1, Luật Di sản văn hoá (2001) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [11, tr. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003 đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Khái niệm DSVHPVT được UNESCO sử dụng trong Công ước quốc tế về bảo vệ DSVHPVT tại Điều 2.1 như sau: DSVHPVT 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVHPVT được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Điều 4 của Luật Di sản văn hóa (2001) Việt Nam ghi rõ: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”[11, tr. Đến kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII thông qua ngày 18/6/2009, Luật Di sản văn hóa Việt Nam có sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó quan niệm về DSVHPVT được diễn giải ngắn gọn hơn: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Như vậy, DSVHPVT luôn sống trong tâm trí con người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng thực hành biểu hiện giá trị của nó.
DSVHPVT luôn đồng hành cùng con người, gắn với ký ức của con người theo dòng lịch sử. Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó.
Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn phải được nhìn là tinh hoa, phải khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn. Khái niệm “bảo tồn” được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản. Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, bảo quản, gia cố… nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của các DSVH.
Về công tác bảo tồn và phát huy DSVHPVT, có hai hình thức bảo tồn: tĩnh và động. Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh v. Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng. Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa.
Đối với các DSVHPVT, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian. “Phát huy” trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của DSVH trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đồng thời khái niệm “phát huy” cũng đã bao hàm các hoạt động khai thác.
Trong công tác bảo tồn và phát huy, vấn đề đặt ra là tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chương trình giáo dục cộng đồng những tri thức về DSVHPVT là công việc rất quan trọng. Đây là cây cầu để đưa DSVHPVT về cộng đồng. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử - văn hóa của tỉnh Bắc Giang Đặc điểm tự nhiên Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm ở phía đông bắc Bắc Bộ, có diện tích 3822km2, gồm 9 huyện (Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng) và thành phố Bắc Giang, với 230 xã, phường, thị trấn; dân số 1.