CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ QUYỀN LÀM TÁC PHẨM PHÁI SINH TỪ TÁC PHẨM ÂM NHẠC TRƯỚC HIỆN TƯỢNG PARODY QUẢNG CÁO 1.1 Tác phẩm âm nhạc và quảng cáo được thực hiện dưới hình thức parody 1. Tác phẩm âm nhạc, phần lời và phần giai điệu Nội hàm về tác phẩm âm nhạc chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật Việt Nam nào. Tuy nhiên, có một cách định nghĩa khá đầy đủ chúng ta có thể tham khảo tại Điều 102.a đoạn 2 rằng “tác phẩm âm nhạc bao gồm bất kỳ từ ngữ có tính truyền tải nào” được cố định trong một số phương tiện diễn đạt hữu hình. Cách quy định này cũng được làm rõ hơn khi hai tác phẩm âm nhạc có cùng tên “Rolling in the Deep” nhưng có phần lời và phần giai điệu khác nhau, thì đó là hai tác phẩm khác nhau.6 Tại cuốn sách Therapeutic song writing: Developments in Theory, Methods, and Practice7 dành cho những người viết nhạc chuyên nghiệp, một tác phẩm âm nhạc cũng được giới thiệu bao gồm phần lời, phần nhạc và cả cách sắp xếp phần nhạc của bài hát, nội dung câu chuyện và cách sắp xếp của phần nhạc.
Parody, quảng cáo được thực hiện dưới hình thức parody Parody là một hình thức tác phẩm phái sinh. Đặc điểm tiên quyết trong một parody là có sự tham khảo từ một tác phẩm gốc (nào đó). Đối với một tác phẩm âm nhạc, nếu là bài hát, sẽ có phần lời và giai điệu. Tác phẩm parody phái sinh từ một tác phẩm âm nhạc sẽ được tạo ra dựa trên sự tham khảo phần giai điệu, phần lời, hoặc cả hai từ tác phẩm gốc.gov/circs/circ50.
Therapeutic song writing: Developments in Theory, Methods, and Practice. 8 Trong cuốn An Empirical Study of Music Videos on the Youtube Platform and an Assessment of the Regulatory Options8, mức độ nhại trong các video parody có mục đích quảng cáo được phân tích và tổng hợp như sau9: - 77% parody có sự sao chép bản ghi của tác phẩm gốc; - 50% parody viết lại lời mới cho tác phẩm gốc; - 78% parody có thể phân biệt với tác phẩm gốc từ góc độ nhận thức của người xem video thông thường; - 35% parody có mục đích nhạy lại nghệ sĩ hoặc tác phẩm gốc; - 31% parody có sự phê bình. Sự phê bình được thể hiện ở 31% tác phẩm gốc được thể hiện đa dạng: phê bình về biểu hiện xã hội và chính trị, từ bình luận về chủng tộc, giới tính và tôn giáo, đến bình luận châm biếm về sự sa sút trí tuệ của các phương tiện thông tin đại chúng, việc thương mại hóa Internet và nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngân hàng gần đây cuộc khủng hoảng.6 % parody nhại chính bản thân của người làm video. người tải lên hướng con mắt phê bình vào chính họ, thay vì nghệ sĩ gốc hoặc bên thứ ba.9% là dành cho những video gắn nhãn parody nhưng không hề mang nội hàm của một parody như: karaoke, vũ đạo, hòa âm, phối khí, mashup.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận định nghĩa riêng cho parody. Tuy nhiên, ta có thể tham khảo một số khái niệm được quy định trong pháp luật nước khác hoặc khu vực khác. Trong đó, tại Điều 5.3 Chỉ thị của Hiệp hội Thông tin năm 2001 có quy định rằng parody mang những tính chất sau: “biếm họa, nhại lại, châm 8 Erickson, Kristofer and Kretschmer, Martin and Mendis, Dinusha (2013), Copyright and the Economic Effects of Parody: An Empirical Study of Music Videos on the Youtube Platform and an Assessment of the Regulatory Options. 9 Erickson, Kristofer and Kretschmer, Martin and Mendis, Dinusha (2013), Copyright and the Economic Effects of Parody: An Empirical Study of Music Videos on the Youtube Platform and an Assessment of the Regulatory Options, pp.
Định nghĩa parody được đề cập trong cuốn A Theory of Parody: The Teachings of Twentieth-century Art Forms11 được phân tích với hàm ý chính như sau: Hình thức của một parody liên quan rất nhiều đến hình thức của tác phẩm gốc. Vì vậy, như đã nêu trên, một tác phẩm âm nhạc chỉ bao gồm phần giai điệu và phần lời. Do đó, một parody có thể liên quan đến tác phẩm gốc thông qua phần giai điệu, phần lời. Sự liên quan ở đây không nhất thiết là giống nhau hoàn toàn, đôi khi có thể là cấu trúc hoặc cách sắp xếp.
Và đôi khi parody có thể nhắm đến tác giả chứ không chỉ gói gọn trong tác phẩm12. Parody về bản chất là một sự nhại lại có mục đích châm biếm hoặc phê bình tác phẩm gốc. Về bản chất, các tòa án (trong phần này là sự nhìn nhận của tòa án Thông luật) sẽ xem xét một tác phẩm parody có xâm phạm quyền Sở hữu Trí tuệ của tác phẩm gốc hay không liên quan rất nhiều đến việc xác định mức độ châm biếm hoặc phê bình. Điều này được thể hiện rất rõ trong pháp luật Mỹ, thể hiện tại Điều 107 USC 1713.
Có nhiều nguyên nhân để một parody xứng đáng là một vi phạm ngoại lệ. Chúng ta có thể xem xét các lý lẽ trong các dẫn chứng được diễn chiếu sau đây. Trong vụ Columbia Pictures kiện National Broadcasting, liên quan đến việc tác phẩm From Here to Obscurity nhạy lại tác phẩm From Here to Eternity14. Trong vụ kiện này chúng ta sẽ không bàn luận đến việc khác ngoài việc tòa án công nhận rằng parody là một hình thức nghệ thuật.
Hiện nay, có rất nhiều quảng cáo được thực hiện dưới hình thức parody, trong đó mức độ, phương thức sản xuất parody tương đối khác nhau. Tuy nhiên ta sẽ có một số ví dụ điển hình là parody “Bùa ăn” trong chiến dịch quảng cáo Tết 2019 của Ô Long TEA+. Thông điệp đơn giản “Ăn Tết ngon, nhẹ dáng son” đã được truyền tải hết sức khéo léo qua những lời bài hát thú vị, khai thác nỗi trăn trở chung của tất cả 10 Nguyên văn tiếng Anh: “for the purpose of caricature, parody or pastiche”. (1986), Review of the book A Theory of Parody: The Teachings of Twentieth-Century Art Forms, University of Toronto Quarterly, pp 1-15.
12 Xem thêm: Posner, R. (1992), When Is Parody Fair Use? The Journal of Legal Studies, pp 67-78. 13 Nguyên văn tiếng anh: “use of a copyrighted work for the purpose of criticism or comment”.com/cases/federal/district-courts/FSupp/137/348/1480440/. 10 mọi người vào ngày Tết, luôn phải kìm lòng trước những món yêu thích vì nỗi ám ảnh cân nặng.
Với giai điệu vui tươi dựa trên bài hát gốc “Bùa yêu” và sự kết hợp ăn ý từ “Bích Phô” Quang Trung và diễn viên hài Huỳnh Lập, MV này đã thu được gần 2 triệu view chỉ sau 2 ngày ra mắt.15 Và nhiều parody quảng cáo khác như “Gì cũng có, mua hết ở Shopee”16 có giai điệu và phần lời gợi nhớ đến tác phẩm “Baby Shark”17.18 Nói tóm lại, parody là hình thức nghệ thuật mang lại tiếng cười hài hước một cách vặn vẹo, châm biếm, và những tiếng cười là nhằm mục đích giáo dục sâu cay. Quyền tác giả nhóm quyền tác giả và mối tương quan đến parody Một số nước đã kịp xác định parody trong quy định pháp luật của mình. Trong đó, có thể kể đến pháp luật chung của Liên minh Châu Âu, pháp luật tại một số nước Thông Luật như Úc, Canada, Hoa Kỳ. Trong đó, tại Điều 5.3 Chỉ thị của Hiệp hội Thông tin năm 2001 có quy định rằng parody mang những tính chất sau: “biếm họa, nhại lại, châm biếm”19.
Tuy nhiên, tại một số nước, parody không được xác định và việc xác định một tác phẩm parody vi phạm dựa trên quy tắc chung áp dụng cho tất cả trường hợp khác. Điểu hình là pháp luật nước Anh. Trường hợp một tác phẩm parody có xâm phạm bản quyền hay không được xác định dược theo Điều 16.3 Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA 1988)20, Điều 16.3 quy định việc sử dụng tác phẩm là hành vi xâm phạm khi “sử dụng toàn bộ tác phẩm hay một phần nào đó quan trọng của tác phẩm”21. Và một tác phẩm parody thường vi phạm theo trường 15 Xem parody “Bùa ăn” tại: https://www.com/watch?v=k7gQsWvUFEE.
Xem MV “Bùa yêu” tại: https://www.com/watch?v=FkOt19CUC30. 16 Xem video tại: https://www.com/watch?v=aXv21ehf3Sg. 17 Xem video tại: https://www.com/watch?v=rlYHL_VpTBc. 18 Tham khảo thêm một số video khác có dấu hiệu parody tại: https://www.com/watch?v=Rd0JX0vmPUM; https://www.com/watch?v=RzlkJV-4k5k; https://www.com/watch?v=O2AhIvcceRY; https://www.com/watch?v=z9lf2S5-7ks; https://www.com/watch?v=2PDtv2xwoJE.
19 Nguyên văn tiếng Anh: “for the purpose of caricature, parody or pastiche”.uk/ukpga/1988/48/contents. 21 Nguyên văn tiếng Anh: “as a whole or any substantial part of it”. 11 hợp sử dụng một phần quan trọng của tác phẩm gốc. Tuy nhiên, những hành vi vi phạm vì lợi ích của xã hội cũng sẽ được bảo vệ theo quy định tại Điều 30.
Nhưng theo đánh giá của Tạp chí Hargreaves, cần có một chế định dành riêng cho parody. Vì, với tính chất khác biệt như đã phân tích ở mục 1.2 Luận văn, cần xây dựng cơ chế xử lý riêng đối với một tác phẩm parody để đảm bảo hơn lợi ích xã hội nhưng vẫn không làm phương hại đến lợi ích của chủ sở hữu tác phẩm gốc. Không chỉ dừng lại ở đó, trong bối cảnh kỷ nguyên thông tin và sự phát triển của internet, tốc độ lan truyền của parody thật sự nhanh chóng. Parody còn được sử dụng nhưng một phương thức quảng cáo thu hút, được rất nhiều doanh nghiệp hàng đầu sử dụng, đơn cử là Lazada và Shopee và những quảng cáo cho các chiến dịch giảm giá.
Hiện nay, các tác phẩm parody xuất hiện tràn lan trên các nền tảng chia sẻ video trực tuyến. Trong đó, không thiếu những parody được tạo ra với mục đích quảng cáo. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, ngày 20 tháng 7 năm 1982, mầm mống đầu tiên trong việc hình thành quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam được đánh dấu bằng sự thành lập của Cục Sáng chế (tiền thân của Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay). Trong giai đoạn 1982 đến 1992, nhà lập pháp Việt Nam chỉ nhận thức được quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến sở sáng chế, mà chưa đề cập đến quyền tác giả hay quyền liên quan.
Trong giai đoạn 1993-2002, bằng việc ban hành Nghị định số 22-CP ngày 22 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ về Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của bộ khoa học công nghệ và môi trường quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Cục Sáng chế được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp, qua đó mở rộng hơn phạm quy kiểm soát của quyền sở hữu trí tuệ, không chỉ gói gọn trong sáng chế, mà mở rộng qua thành sở hữu công nghiệp. Giai đoạn 2003 đến nay, năm 2013 đánh dấu mầm mống đầu tiên quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm và quyền liên quan.