Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền tác giả trên Internet. Chương 2: Thực trạng quy định của các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trên Internet và kinh nghiệm thực thi ở một số quốc gia trên thế giới. Chương 3: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả trên Internet. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRÊN INTERNET 1.
Khái niệm quyền tác giả Những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ có thể mang nhiều điểm khác nhau về địa lý, lịch sử, dân tộc, ngôn ngữ nhưng đều mang đặc điểm chung đó là tính phi vật thể và khả năng dễ phổ biến, khai thác ở nhiều quốc gia. Do đó, cần thiết lập một hệ thống bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm của sáng tạo trí tuệ. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, quyền tác giả có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Đó chính là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Như vậy, quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể, Tác giả và chủ sở hữu. Từ cách xem xét quyền tác giả như trên, dẫn đến việc chủ thể của quyền tác giả có thể là một trong hai loại, hoặc chủ thể bao gồm hai tư cách, Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Cụ thể hơn, nếu chủ thể là cá nhân thì có thể đóng vai trò là chủ sở hữu hoặc tác giả, hoặc cả hai.
Còn chủ thể là tổ chức thì có quyền tác giả với tư cách là chủ sở hữu. Quyền tác giả hay tác quyền (copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa không bị vi phạm bản quyền, như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm, quyền tác giả thông 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất.
Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép, trình diễn bất hợp pháp. Ví dụ: Tác giả một tác phẩm âm nhạc được làm chủ thành quả lao động trí tuệ của mình, được độc quyền công bố, hoặc cho người khác công bố tác phẩm âm nhạc của mình. Việc sao chép, phổ biến nội dung tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả là xâm phạm quyền tác giả. Quyền tác giả nói chung được hiểu là quyền mà pháp luật trao cho các tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, bao gồm quyền bộc lộ tác phẩm, quyền sao chép tác phẩm và phân phối hoặc phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương thức hoặc phương tiện nào, và quyền cho phép người khác sử dụng tác phẩm theo những cách thức cụ thể.
Hầu hết luật quyền tác giả của các nước đều phân biệt rõ giữa quyền tài sản và quyền nhân thân. Các ngoại lệ nhất định cũng được đặt ra đối với các loại hình tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo hộ, và đối với việc thực thi các quyền đó. Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam cũng trao cho tác giả các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do chính tác giả trực tiếp sáng tạo ra. Từ khái niệm quyền tác giả, có thể suy ra được quyền tác giả là một quyền dân sự.
Trong quan hệ pháp luật dân sự này, chủ thể là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khách thể hay đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật. Nội dung là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tóm lại, Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được pháp luật quy định đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nội dung bảo hộ quyền tác giả - Tác phẩm được bảo hộ Tác phẩm được luật pháp quốc gia và Công ước Berne bảo hộ quyền tác giả là những tác phẩm thuộc về văn học, nghệ thuật và khoa học. Theo luật Việt Nam, nó bao gồm các loại hình: văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác, bài phát biểu, bài giảng, tác phẩm sân khấu, điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, chương trình máy tính. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh.
Tuy nhiên chỉ những tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo, không sao chép từ tác phẩm khác mới thuộc loại hình được bảo hộ. Các tin tức thời sự chỉ mang tính chất thông tin không có tính sáng tạo, vì vậy không được bảo hộ. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của các cơ quan hành chính, thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của nó, và các khái niệm, nguyên lí, số liệu cũng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. - Tác giả của tác phẩm Tác giả là những người bằng lao động trí tuệ của mình, trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng vật chất nhất định.
Những người làm các công việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn cũng được coi là tác giả của tác phẩm phái sinh này. Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp tham gia sáng tạo tác phẩm thì họ là đồng tác giả của tác phẩm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nội dung quyền tác giả Quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả tự động phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hình thành dưới dạng vật chất nhất định. Các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng tiền nhuận bút, thù lao và lợi ích vật chất khác từ việc cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác và sử dụng tác phẩm. i, Quyền nhân thân - Quyền đứng tên tác giả trên bản gốc và bản sao tác phẩm. Tác giả có quyền lựa chọn việc đứng tên thật, bút danh hoặc có thể chủ động không đứng tên - “khuyết danh’’. Theo đó, tác giả có quyền yêu cầu được ghi tên tác giả trên bản gốc, các bản sao; quyền được nêu tên khi biểu diễn, phát sóng tác phẩm.
- Quyền đặt tên tác phẩm, đây là quyền quan trọng của tác giả để “khai sinh” cho tác phẩm. Quyền đặt tên cho tác phẩm không áp dụng đối với tác giả của tác phẩm. Điều này là phù hợp bởi tác phẩm dịch phải tôn trọng tác phẩm gốc. Việc chuyển sang ngôn ngữ, hệ thống ký hiệu khác nhưng không có nghĩa là được đặt lại tên tác phẩm gốc.
Tác giả chương trình máy tính và các nhà đầu tư sản xuất chương trình máy tính có thể thỏa thuận về việc đặt tên và việc phát triển các chương trình máy tính. - Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền ngăn cấm hoặc cho phép người khác khai thác, sửa chữa tác phẩm của mình. Quyền này còn ngăn chặn người khác xuyên tạc, xâm phạm tới uy tín, danh dự của mình. Người biên tập có thể thực hiện việc sửa chữa tác phẩm, do sự thay đổi các chuẩn mực xã hội, ngôn từ và chính tả, nhưng phải được sự đồng ý của tác giả.
- Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm của mình. Việc công bố hay chưa công bố tác phẩm tùy thuộc vào quyết định của tác giả. Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố là việc phát hành 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình hay xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
Vì các hành vi này là các hành vi mang tính chất công bố, phổ biến, truyền đạt tác phẩm không kèm theo bản sao tác phẩm phù hợp với các quy phạm trong công ước Berne, Hiệp định TRIPS và hai hiệp ước về Internet của WIPO. Trong các quyền trên, quyền đứng tên, quyền đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền được pháp luật quốc gia và quốc tế bảo hộ vô thời hạn và không được chuyển giao. Quyền công bố tác phẩm là quyền có thể để lại thừa kế, chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác. Các quyền này gắn liền với nhân thân của tác giả, có liên quan mật thiết tới mặt đời sống văn hóa, tinh thần của tác giả cho nên có sự khác biệt trong pháp luật các quốc gia về tên gọi nhóm quyền này.
Nhưng theo cách phân biệt quyền trong hệ thống pháp luật của Việt Nam thì quyền nhân thân có phạm vi quyền rộng hơn rất nhiều bốn loại quyền kể trên.