CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm Nhãn hiệu Nhãn hiệu đã có từ thời cổ đại, thậm chí từ lúc con người còn tự cung tự cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người thợ thủ công. Thời đó có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hóa ra bên ngoài vùng sinh sống của họ và thậm chí có khi tới những vùng đất rất xa. Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc những chữ ký của mình trên những tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng hóa tới Iran.
Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng nghàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng, kể cả nhãn hiệu FORTIS mà sau này đã trở nên nổi tiếng đến nỗi bị sao chép và làm giả. Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung Cổ mà việc sử dụng các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của các thương gia và các nhà sản xuất đã khá phát triển. Tuy vậy, tầm quan trọng về mặt kinh tế của chúng vẫn còn hạn chế. Các nhãn hiệu bắt đầu đóng một vai trò quan trọng với công cuộc công nghiệp hóa và từ đó đã trở thành một yếu tố quan trọng trong thế giới hiện đại của thương mại quốc tế và nền kinh tế thị trường.
Công nghiệp hóa và sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường cho phép các nhà sản xuất và các thương gia cạnh tranh đưa đến người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hóa cùng chủng loại. Thường nếu không có sự khác biệt rõ ràng đối với người tiêu dùng, chúng chỉ thường khác nhau về giá cả và các đặc tính khác. Rõ ràng người tiêu dùng cần được hướng dẫn, giúp họ suy xét các lựa chọn và đi đến quyết định lựa chọn riêng cho mình trong số hàng hóa cạnh tranh. Do đó, hàng hóa phải được đặt tên.
Phương tiện để đặt tên hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất, thương mại mang tính toàn cầu, nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ cùng với những chiến lược quảng cáo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp thị của các nhà sản xuất kinh doanh, thì việc sử dụng đúng đắn chức năng của nhãn hiệu theo đúng pháp luật sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế của cuộc sống mọi việc không diễn ra một cách lành mạnh như vậy. Do ham lợi, muốn đạt được lợi nhuận nhanh chóng và bằng cách rẻ nhất, người ta đã làm giả, bắt chước hoặc nhái theo các nhãn hiệu được công chúng ưa chuộng, mặc dù các loại hàng này thường có chất lượng thấp hơn hàng thật, thậm chí hoàn toàn không có chức năng sử dụng.
Điều này đã xảy ra từ xa xưa, khi bắt đầu xuất hiện việc trao đổi hàng hóa trên trái đất và cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tệ nạn đó ngày càng phát triển cả về quy mô và độ tinh vi, nhất là trong thời đại bùng nổ nền kinh tế hàng hóa như ngày nay. Rõ ràng việc làm giả bắt chước nhãn hiệu như trên sẽ triệt tiêu sức sản xuất trong xã hội, làm người sản xuất không muốn đầu tư để phát triển hàng hóa mang nhãn hiệu của mình, còn người tiêu dùng từ chối mua hàng hóa vì mất niềm tin. Như vậy, thông qua việc giúp người tiêu dùng có quyết định lựa chọn giữa những hàng hóa đa dạng được chào bán trên thị trường, nhãn hiệu còn khuyến khích chủ sở hữu duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm bán ra dưới nhãn hiệu đó, để đáp ứng sự mong đợi của người tiêu dùng. Do vậy, nhãn hiệu "thưởng công" cho những người sản xuất hàng hóa chất lượng cao một cách ổn định và kết cục là nhãn hiệu kích thích sự phát triển kinh tế.
Khái niệm Nhãn hiệu đã được các chuyên gia, các nhà lập pháp, các nhà quản lý hay các nhà sản xuất kinh doanh. đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về Nhãn hiệu. Để làm rõ khái niệm Nhãn hiệu, trong phạm vi nghiên cứu của mình tác giả xin được giới thiệu các khía cạnh nghiên cứu sau.1 Khái niệm Nhãn hiệu theo quan niệm của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) là một trong số các tổ chức chuyên môn của hệ thống các tổ chức của Liên Hợp quốc (UN).
Công ước thành lập WIPO được ký kết tại Stockholm năm 1967 và có hiệu lực năm 1970. WIPO có trụ sở tại Genever Thụy Sỹ với sứ mệnh là thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc sáng tạo, phổ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biến, sử dụng và bảo vệ những sản phẩm trí tuệ của con người nhằm góp phần cân đối giữa khuyến khích sáng tạo trên toàn thế giới, một mặt bằng cách bảo hộ thích đáng các lợi ích vật chất và tinh thần của người sáng tạo, mặt khác là đem lại cơ hội dự thưởng những lợi ích văn hóa và kinh tế xã hội của các sáng tạo đó trên toàn thế giới; khuyến khích việc ký kết các điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ; giúp cho việc hiện đại hóa pháp luật quốc gia giữa các nước thành viên, quản lý các điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ. Theo định nghĩa của WIPO nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm.
Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm. Định nghĩa Nhãn hiệu của WIPO đã xác định các yếu tố và bản chất của nhãn hiệu. Định nghĩa này chính là sự kế thừa những quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Hiêp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS): "Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu.
Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được". 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo định nghĩa nhãn hiệu của Hiệp định TRIPS/WTO thì nhãn hiệu bao gồm các yếu tố sau: - Một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác; - Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó.; - Các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu.
Việc xác định một đối tượng nào đó có phải là nhãn hiệu hay không thường được xem xét dựa trên mục đích sử dụng của nó. Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệt một sản phẩm, nhãn hiệu phải chỉ ra được nguồn gốc của hàng hóa. Chỉ khi nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với những hàng hóa của doanh nghiệp khác bán trên thị trường. Điều này cho thấy không thể tách biệt giữa chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc của nhãn hiệu.
Như vậy, khái niệm nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPS/WTO thường khái quát chung chung ở tầm vĩ mô và mang tính quy chuẩn cao. Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của các nhà làm luật về tính phong phú, đa dạng của sự phát triển tư duy con người trong phát triển kinh tế nói chung và trong việc xây dựng nhãn hiệu nói riêng. Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đi theo xu hướng chung đó khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu. Tuy nhiên, mỗi nước có những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau nên cách định nghĩa về nhãn hiệu cũng có những điểm khác nhau.2 Khái niệm Nhãn hiệu theo Pháp luật Mỹ.
Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Mỹ đều dựa trên cở sở khái niệm nhãn hiệu của Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN năm 1883 của WIPO và của Hiệp định TRIPS//WTO. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu của Mỹ được điều chỉnh bởi Đạo luật Nhãn hiệu (Lanham Act) ban hành năm 1946 và được sửa đổi nhiều lần trong quá trình áp dụng.