Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về kiểu dáng công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Một sản phẩm để dễ được người tiêu dùng chú ý đến không chỉ bởi chất lượng, tính năng của nó mà còn phụ thuộc phần lớn vào kiểu dáng bên ngoài của sản phẩm. Kiểu dáng công nghiệp là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
Vì thế, kiểu dáng công nghiệp cũng có những đặc tính chung của tài sản trí tuệ như: tính sáng tạo, tính chất vô hình, tính dễ phổ biến, lan truyền. Tuy nhiên về nội hàm kiểu dáng công nghiệp hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau với các tiêu chí khác nhau. Có thể dẫn ra một số ví dụ như sau: Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), KDCN là “các khía cạnh mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía cạnh 3 chiều, ví dụ như hình dạng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh hai chiều như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc.
Có thể thấy, theo WIPO, KDCN được xác định trước hết ở tính chất trang trí hay thẩm mỹ của nó. KDCN cũng được xác định là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm và biểu hiện đó có thể ở không gian hai chiều hoặc ba chiều. Định nghĩa đã lấy ví dụ về các cách thể hiện ở không gian ba chiều và không gian hai chiều của KDCN. Định nghĩa của WIPO mang tính “mở”, cho phép hiểu về KDCN theo một nghĩa rất rộng.
Theo pháp luật Mỹ, KDCN “bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dạng và trang trí bề ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời sản phẩm mà nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được”. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật Mỹ đã nhấn mạnh đặc tính trang trí của KDCN và cũng khẳng định KDCN được thể hiện ở không gian hai chiều hoặc ba chiều.
Ngoài ra, pháp luật Mỹ còn đặt ra yêu cầu KDCN phải luôn gắn liền với sản phẩm cụ thể. Khác với WIPO và Mỹ, pháp luật của Liên minh Châu Âu và một số quốc gia khác trên thế giới chỉ xác định KDCN là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm và liệt kê cụ thể các yếu tố hợp thành KDCN như đường nét, màu sắc, bố cục v. Liên minh Châu Âu định nghĩa KDCN là “hình dạng bên ngoài của một sản phẩm hay của một số bộ phận của sản phẩm. Kiểu dáng có thể được cấu thành từ các đường nét, màu, hình, bố cục hay trang trí.
Pháp luật Trung Quốc định nghĩa “Kiểu dáng là bất kỳ nét mới nào của hình dáng, kiểu dáng hay màu sắc, hay sự kết hợp của các yếu tố đó với nhau, của một sản phẩm, là những cái tạo ra một ấn tượng mang tính thẩm mỹ và thích hợp với việc áp dụng công nghiệp.” Ngoài liệt kê các dạng biểu hiện của một KDCN, pháp luật Trung Quốc còn đưa ra yêu cầu KDCN phải có khả năng áp dụng vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Trên đây là một số cách định nghĩa trên thế giới về KDCN, đối với pháp luật Việt Nam, KDCN được định nghĩa như sau: “KDCN là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp của những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”. Như vậy, có thể thấy, định nghĩa về KDCN theo pháp luật của các nước trên thế giới còn tồn tại những điểm không thực sự giống nhau nhưng về cơ bản, các định nghĩa đều thống nhất với nhau hai đặc điểm thuộc về bản chất của một KDCN nói chung: Thứ nhất, KDCN phải là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm mà người tiêu dùng có thể cảm nhận được bằng các giác quan khác nhau, giác quan chủ yếu là thị giác. Biểu hiện bên ngoài này của sản phẩm phải cảm nhận được bằng mắt thường, tạo ra một ấn tượng về thị giác, có thể là đường nét, hình khối, màu sắc, hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, đảm bảo phân biệt được sự giống nhau hay khác biệt giữa các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản phẩm.
Cách thức biểu hiện vẻ bên ngoài của sản phẩm có thể ở dạng không gian hai chiều hoặc không gian ba chiều. Thứ hai, KDCN phải có khả năng ứng dụng để sản xuất ra sản phẩm bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp. Tổng hợp các đặc điểm tạo dáng không gắn liền với sản phẩm sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa KDCN. Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định về khả năng áp dụng công nghiệp của KDCN.
Theo đó, KDCN phải là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp (Hoa Kỳ, EU, Indonesia, Malaysia, Philippines…) hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm được sản xuất công nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc…) Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã đưa hai tiêu chí trên vào trong định nghĩa về KDCN. Có thể thấy pháp luật Việt Nam về KDCN khá tương đồng với pháp luật các nước trên thế giới. Ví dụ về kiểu dáng công nghiệp: Nguồn:http://www.vn/bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep/dang-ky- bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep-hs.html 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với các đặc điểm trên, KDCN có những chức năng cụ thể như sau: - KDCN mang chức năng thẩm mỹ, tức là KDCN cần phải có tính thẩm mỹ, làm hài lòng người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm mang kiểu dáng đó. Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của KDCN.
Một trong những tiêu chí cơ bản để một KDCN được bảo hộ đó là tính thẩm mỹ, từ đó, ta có thể thấy, đề cập tới KDCN là đề cập tới vẻ đẹp, tính hấp dẫn ở hình khối, dáng vẻ bên ngoài của sản phẩm. Chính tính thẩm mỹ này mang lại giá trị kinh tế cho KDCN. - KDCN có chức năng nâng cao tiện ích của sản phẩm. Bên cạnh chức năng quan trọng nhất là chức năng thẩm mỹ, còn một chức năng khác của KDCN là chức năng nâng cao sự thuận tiện và lợi ích của sản phẩm.
Mặc dù không như giải pháp hữu ích nhưng thực tế cho thấy, thông thường cùng với sự sáng tạo KDCN hướng đến tính thẩm mỹ thì đồng thời cũng cần quan tâm đến khả năng tiện dụng trong việc sử dụng sản phẩm. Nếu sản phẩm gây bất tiện do người sử dụng hoặc làm mất đi bản chất đặc trưng của sản phẩm thì sản phẩm sẽ không còn hữu dụng cho mục đích sử dụng như ban đầu nó hướng tới. Do đó, khi sáng tạo KDCN, không chỉ có khía cạnh thẩm mỹ được chú trọng mà ngay cả việc tiện lợi trong sử dụng sản phẩm cũng phải được quan tâm hàng đầu. - KDCN đóng vai trò để phân biệt các sản phẩm cùng loại.
Khi những sản phẩm có cùng tính năng sử dụng thì dáng vẻ bên ngoài chính là cơ sở để phân biệt những sản phẩm đó với nhau. Ví dụ, đều là điện thoại di động nhưng không cần thiết phải nhìn vào nhãn hiệu hay dòng chữ được in trên máy mà chỉ cần nhìn từ xa, người tiêu dùng cũng có thể dễ dàng nhận ra và phân biệt những loại điện thoại khác nhau như điện thoại Nokia, Apple, HTC… 1. Phân loại kiểu dáng công nghiệp Trên cơ sở khái niệm KDCN, có thể phân loại KDCN dựa trên các hình thức biểu hiện bên ngoài sản phẩm như sau: (i) Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng của sản phẩm Loại KDCN là hình dáng của sản phẩm chính là dáng vẻ bề ngoài của một sản phẩm nhất định. Hình dáng được hiểu là “hình của một vật làm thành vẻ riêng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bên ngoài của nó” và hình là “toàn thể nói chung những đường nét giới hạn của một vật trong không gian làm phân biệt rõ vật đó với xung quanh”.
Hình dáng có thể là hình dạng phẳng (hai chiều) hoặc hình không gian (ba chiều) của sản phẩm. Ví dụ như dáng vẻ của một chiếc điện thoại di động mang đặc trưng bởi hình thù (là sự kết hợp bởi các thành phần như màn hình, các phím bấm,…) mà khi nhìn vào ta có thể phân biệt chiếc điện thoại của nhà sản xuất này với những chiếc điện thoại của nhà sản xuất khác. Đối với loại KDCN này, biểu hiện bên ngoài của sản phẩm chỉ là dáng vẻ của nó mà thôi chứ không chứa các họa tiết hay màu sắc nào cả. (ii) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng và họa tiết Loại KDCN này bao gồm cả hình dáng và họa tiết tức là bên cạnh dáng vẻ của sản phẩm thì bên ngoài sản phẩm còn được thể hiện bởi các họa tiết.
Họa tiết là hình vẽ đã được cách điệu hóa, dùng để trang trí. Vẫn lấy ví dụ chiếc điện thoại di động nói trên, bên cạnh dáng vẻ, hình thù, chiếc điện thoại này còn được trang trí ở vòng ngoài bằng những hình vẽ trang trí bắt mắt… Và tổng thể hình dáng, họa tiết bên ngoài của sản phẩm đã tạo nên tính khác biệt của sản phẩm đó. (iii) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng và màu sắc Đối với loại KDCN này thì hình dáng bên ngoài của sản phẩm được biểu hiện bởi dáng vẻ, hình thù kết hợp cùng màu sắc trang trí. Màu sắc ở đây là màu của chính sản phẩm có được do nguyên liệu được sử dụng trong thực thể hoặc màu của thuốc nhuộm hoặc sơn phủ lên sản phẩm.
Cùng là ví dụ về chiếc điện thoại di động như nói trên, trong trường hợp này, kiểu dáng của chiếc điện thoại lại được thể hiện bởi dáng vẻ cùng với màu sắc được dùng để trang trí, tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm. (iv) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng, họa tiết và màu sắc Khác với các loại KDCN nói trên, loại KDCN này mang trong nó tất cả các yếu tố thể hiện: hình dáng, họa tiết và màu sắc. Chiếc điện thoại di động lúc này được thể hiện bởi hình dáng, các hình vẽ và cả màu sắc trang trí.