CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÃN HIỆU MÙI THEO PHÁP LUẬT CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Khái niệm, đặc điểm và chức năng nhãn hiệu mùi 1. Khái niệm nhãn hiệu mùi Nhãn hiệu là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ hiện nay. Năm 1977, nhãn hiệu lần đầu tiên được sử dụng ở Anh và sau đó được 23 phổ biến trên toàn thế giới.
Riêng đối với nhãn hiệu mùi, vì có những đặc điểm đặc thù nên loại nhãn hiệu này chỉ mới được biết đến vào năm 1999 tại châu Âu, đó 24 là nhãn hiệu “mùi cỏ tươi mới cắt” cho bóng tennis của công ty Vennootschap. Do đó, pháp luật EU chưa có những quy định riêng dành cho nhãn hiệu mùi và khái niệm nhãn hiệu mùi cũng chưa được quy định cụ thể. Việc tìm hiểu khái niệm nhãn hiệu mùi sẽ dựa trên định nghĩa về nhãn hiệu. Hiểu theo nghĩa thông thường, một nhãn hiệu là một dấu hiệu có thể biểu thị cho một thực thể nào đó với khả năng phân biệt hoặc có những đặc trưng nhất 25 định.
Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property Organisation - WIPO), “nhãn hiệu là một dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa 26 hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác”. Ở góc độ pháp luật quốc tế, khái niệm nhãn hiệu được thừa nhận và phát 27 triển qua từng giai đoạn khác nhau trong các điều ước quốc tế về nhãn hiệu. Cụ thể, Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và Thỏa ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa quốc tế chưa đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu mà chỉ 28 quy định về điều kiện đăng ký nhãn hiệu. Cho đến khi Hiệp định về các khía cạnh 23 Lê Nết (2016), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB.
Hồng Đức, tr. 24 Vụ kiện Vennootschap Case R156/1998-2, tlđd (5). 25 The Oxford English Dictionary Online, truy cập trên trang http://dictionary.com ngày 08 tháng 06 năm 2020. 26 Website của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, truy cập trên trang https://www.int/trademarks/ en/ vào ngày 28 tháng 12 năm 2019.
27 Hệ thống văn bản pháp luật quốc tế về nhãn hiệu bao gồm: Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883, Thỏa ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa quốc tế năm 1891, Nghị định thư Madrid liên quan đến Thỏa ước Madrid năm 1989, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 2005, Hiệp ước về luật nhãn hiệu năm 1994, Hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu năm 2006. 28 Điều 6 Công ước Paris. Nhãn hiệu: Điều kiện đăng ký; sự độc lập của việc bảo hộ một nhãn hiệu tại các nước khác nhau (1) Điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải được quy định tại luật quốc gia của mọi nước thành viên của Liên minh. 12 liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được ký kết vào năm 1995, các nước thành viên mới đưa ra được định nghĩa cơ bản về nhãn hiệu.
Đó là “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là 29 nhãn hiệu hàng hoá”. Tuy nhiên, quy định này của Hiệp định TRIPS đã giới hạn phạm vi bảo hộ nhãn hiệu chỉ là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được. Ngày nay, khi các loại nhãn hiệu truyền thống đã quá quen thuộc với người tiêu dùng, các nhà sản xuất phải nỗ lực tìm kiếm và đổi mới hình thức của nhãn hiệu để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Nhờ vào sự phát triển vượt bậc của trình độ khoa học công nghệ thế giới, các nhãn hiệu phi truyền thống ra đời và phổ biến 30 rộng rãi trên thị trường. Nếu nhãn hiệu truyền thống là các loại nhãn hiệu có khả năng nhìn thấy được như nhãn hiệu hình ảnh, từ ngữ hoặc sự kết hợp của các dấu 31 hiệu này thì định nghĩa về nhãn hiệu phi truyền thống rất rộng nhưng có thể hiểu một cách khái quát, đây là những loại nhãn hiệu không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn bởi toàn bộ các giác quan khác của mỗi người. Chẳng hạn như nhãn hiệu âm thanh được cảm nhận bằng thính giác hay như nhãn hiệu mùi được cảm nhận bằng khướu giác. Để đảm bảo khả năng bảo hộ cho các loại nhãn hiệu phi truyền thống này, khái niệm về nhãn hiệu trong pháp luật quốc tế và một số quốc 32 gia đã được sửa đổi, theo đó nhãn hiệu được hiểu là bất kì dấu hiệu nào có khả năng phân biệt.
Trong pháp luật quốc tế về SHTT, cụ thể theo quy định tại Điều 2 (2) Tuy vậy, một đơn đăng ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh cũng không thể bị từ chối - hoặc một đăng ký nhãn hiệu cũng không thể bị huỷ bỏ - với lý do rằng việc nộp đơn, đăng ký, hoặc gia hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực. (3) Một nhãn hiệu đã đăng ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên minh được coi là không phụ thuộc vào các nhãn hiệu đăng ký tại các nước thành viên khác của Liên minh, kể cả nước xuất xứ. 29 Khoản 1, Điều 15, Hiệp định TRIP’S năm 1994: truy cập trên trang: https://www.org/english/docs_e/ legal_e/27-trips_04_e.htm#2 ngày 08 tháng 06 năm 2020. 30 Carsten Schaal (2003), “The Registration of Smell Trademarks in Europe: another EU Harmonisation Challenge”, p.1, truy cập trên trang http://www.com/lex-e-scripta/articles/trademarks-registration - smell-EU.htm ngày 10 tháng 6 năm 2020.
31 Roberto Carapeto (2016), “A Reflection About the Introduction of Non-Traditional Trademarks”, Waseda Bulletin of Comparative Law Vol.25, truy cập trên trang https://www.jp/folaw/icl/assets/uploads/ 2016/02/c35688e10d1c61201172065546b98301.pdf ngày 08 tháng 6 năm 2020. 32 Dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu được hiểu là bất kỳ kí hiệu nào được sử dụng để chỉ ra nguồn gốc thương mại của sản phẩm. Các dấu hiệu có thể là từ, ngữ, cụm từ, logo, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố này thể hiện dưới dạng đen trắng hoặc màu sắc, âm thanh, mùi hương, hình ảnh ba chiều,… 13 Hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu năm 2006 quy định như sau: “Bất kỳ Bên ký kết nào cũng sẽ áp dụng Hiệp ước này đối với các nhãn hiệu bao gồm các dấu hiệu 33 có thể được đăng ký là nhãn hiệu theo luật của mình”. Tương đồng với cách định nghĩa trên, khái niệm nhãn hiệu trong pháp luật của EU đã được mở rộng phạm vi nội hàm trong Quy chế nhãn hiệu thương mại của EU 34 (EUTMR) năm 2016, theo đó, nhãn hiệu “bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào, cụ thể là các từ, bao gồm tên cá nhân, hoặc kiểu dáng, chữ cái, chữ số, màu sắc, hình dạng của hàng hóa hoặc của bao bì hàng hóa hoặc âm thanh”, miễn là các dấu hiệu đó thỏa mãn các 35 điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ theo quy định tại Điều 4 của Quy chế này.
Từ đó, có thể suy ra rằng, nhãn hiệu mùi là bất kỳ dấu hiệu mùi nào được sử 36 dụng để phân biệt hàng hóa của chủ sở hữu với các đối thủ cạnh tranh khác. Đặc điểm của nhãn hiệu mùi Về cơ bản, nhãn hiệu mùi là một loại nhãn hiệu nên cũng có đặc điểm cơ bản cho phép nhận diện nhãn hiệu, đó là tính phân biệt. Tuy nhiên, tính phân biệt của nhãn hiệu mùi là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Có ý kiến cho rằng mùi hương không 37 có khả năng phân biệt nên không được đăng ký bảo hộ như là nhãn hiệu.
Điều này do ảnh hưởng bởi các đặc điểm riêng biệt của nhãn hiệu mùi như sau: Một là, tính chất chủ quan trong việc cảm nhận nhãn hiệu mùi Nhãn hiệu mùi là một loại nhãn hiệu rất đặc biệt vì không được nhận biết bằng thị giác mà chỉ tác động đến người tiêu dùng thông qua khướu giác. Đây là một trong những giác quan tác động mạnh mẽ nhất trong việc khơi gợi trí nhớ và cảm xúc của 33 Điều 2 Hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu năm 2006, truy cập trên trang https://wipolex.int/en/text/ 290019 ngày 08 tháng 06 năm 2020. 34Regulation (EU) 2017/1001 of The European Parliament and of The Council of 14 June 2017 on the European Union trade mark, truy cập trên trang https://eur-lex.eu/legal-content/EN/TXT/?qid= 1506417891296&uri=CELEX:32017R1001 ngày 11 tháng 09 năm 2020. Signs of which an EU trade mark may consist An EU trade mark may consist of any signs, in particular words, including personal names, or designs, letters, numerals, colours, the shape of goods or of the packaging of goods, or sounds, provided that such signs are capable of: (a) distinguishing the goods or services of one undertaking from those of other undertakings; and (b) being represented on the Register of European Union trade marks (‘the Register’), in a manner which enables the competent authorities and the public to determine the clear and precise subject matter of the protection afforded to its proprietor.
36 Garth Kallis (2018), The Legal Protection of Sound, Scent and Colour Marks in South Africa: Lessons from The European Union and The United States of America, Mini – thesis, University of the Western Cape, South Africa, p. 14 mỗi người. Mùi hương tác động trực tiếp đến bộ não của con người và ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng, đồng thời có khả năng hấp dẫn hoặc gợi nhớ về sản phẩm 38 nhanh nhất. Nhờ đó, mùi hương có thể giúp người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm 39 của các nhà sản xuất khác nhau ngay cả khi họ không nhớ tên của sản phẩm.
Trên cơ sở này, các nhà sản xuất đã sử dụng những mùi hương độc đáo để làm nhãn hiệu cho các sản phẩm của mình, nhằm tạo ấn tượng khác biệt cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho thấy, với cùng một mùi hương nhưng 40 mỗi người có thể có những cảm nhận khác nhau bởi các yếu tố chủ quan. Đây là nguyên nhân làm cho mùi hương khó có thể được bảo hộ như một nhãn hiệu do không thể đánh giá chính xác khả năng phân biệt của nhãn hiệu mùi đối với cộng đồng. Đối với những người có khướu giác nhạy cảm hơn những người khác thì sẽ có khả năng nhận biết mùi hương chính xác hơn.